Các hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết (ĐHVH) - Cần xem văn học dân gian và văn học
viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối
tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là
một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình
nghệ thuật này.
Cổng làng ở Bắc Giang Sự tương
tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã
hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của
những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người
thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời
đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này
phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp
hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên.
Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu: Kinh đô cũng có kẻ rồ Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên. Những
người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường
học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng
dân chúng nơi thôn dã. Những “phần tử lạc ngũ” (chữ dùng của V.I. Lênin) thường
tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của
những người cùng sống. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới
hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ nhà văn reo rắc văn chương bác học
vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn
reo rắc văn học dân gian vào môi trường bác học. Nhìn vào
xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ
nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học
viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta
có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất. Một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc
(viết trường ca, truyện ngắn…) để đăng báo, in sách. Tại thời điểm khác, anh ta
có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài
hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả. Sự tương tác này
diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết,
anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân
gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất
hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác
giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa.
Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi,
để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa. Đó chính
là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết. Về biểu
hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây: 1. Hình thức nhại Nhại là
một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện
văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không
bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết.
Bản thân từ “nhại” cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn
học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân
gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn
mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn
học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là
những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp
lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm
70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau: Con đò dịch đít sang ngang Xa xa có một cái làng thò ra Chắc chắn
Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy. Hiện
tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác.
Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể
có những bài thơ nhại. Trong văn
học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào
phúng và trên sân khấu chèo. Hình thức
nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian
nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân
gian. 2. Hình thức mô phỏng Nếu hình
thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn
học viết. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian.
Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian.
Ngay cả các nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ “Anh đi anh
nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…” mãi sau này mới bị phát hiện
ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định
Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, nhiều người
trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ “Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh
đồng bông trắng như mây” được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài mô
phỏng ca dao. Hiện
tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các
trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim,
L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn
nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn
học dân gian. Việc đi
tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian
là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ:
truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý
nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà
thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học
viết. 3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu
văn học Đây là
hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và
ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân
gian: Anh xa em như bến xa thuyền Như Thuý
Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên
cho tái hồi * Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà Mối sầu tinh
đẩu đã ba năm tròn Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ. Các từ Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy
từ nguồn văn học bác học. Ngược
lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những
tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem
như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới,
văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây
dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân
gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân
tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian.
Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu: Một nhà sum họp trúc mai Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông. * Nàng rằng: “Non nước xa khơi, Sao cho trong
ấm thì ngoài mới êm. Dễ lòa yếm thắm, trôn kim, Làm chi bưng
mắt bắt chim khó lòng ! Đôi ta chút nghĩa đèo bòng, Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”. Các từ và
cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng
mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt. Sự thâm
nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà
ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều
có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử
dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm
văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến
chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà
văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và Tây du ký, hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm
ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể
trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở
ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để
thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa
Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo
nên những tác phẩm văn học viết đích
thực, không phải là dân gian nữa. 4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong
cách Đây là
hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức
này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho
mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được
về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác
phẩm. Văn học dân gian không có phong cách tác giả nhưng có phong cách thể
loại. Sự thâm
nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn
nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh
hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân
gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không
nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam: Đèn tà thấp thoáng bóng trăng, Ai đem người ngọc thung thăng chốn này. Thuở sinh
thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ
Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học
viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó. Hiện
tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong
nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:
Giếng thơi mưa ngập nước tràn, Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều. * Nhà em cách bốn quả đồi, Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng, Nhà em xa cách quá chừng, Em van anh đấy, anh đừng yêu em. Có thể
nói, sự thâm nhập của phong cách dân gian vào thơ Nguyễn Bính không diễn ra
trên bình diện vay mượn chất liệu thơ ca mà là sự đồng điệu với tâm hồn dân tộc
của nhà thơ. Chỉ có thực sự uống nước từ nguồn mạch dân gian và tắm mình trong
nguồn mạch ấy, thơ Nguyễn Bính mới có được phong cách như vậy. Những tác
gia văn học khác cũng có nhiều câu mang phong cách dân gian, mặc dù không phải
toàn bộ tác phẩm. * * * Trên đây
là bốn hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết. Sự
tương tác này, một mặt, làm cho cả hai loại của nghệ thuật ngôn từ trở nên
phong phú, làm nên những đỉnh cao về chất lượng; mặt khác, cũng làm cho ranh
giới của hai
loại này trở nên mờ nhạt, nhiều khi lẫn lộn, khó phân biệt. Trong văn học dân
gian hiện đại, ranh giới này càng khó phân biệt hơn khi mọi người đều có khả
năng sáng tác văn học viết nhưng đồng thời cũng thích sáng tác văn học dân
gian. Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2009 PGS.TS.
Trần Đức Ngôn Trường ĐHVH Hà Nội Admin 1 Lượt xem: 3562 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|