
Mở đầu
Trong bối cảnh quá trình toàn cầu
hoá ngày càng gia tăng, kinh tế và văn hoá có thể được xem là hai nguồn lực lớn
nhất quy định hành vi của con người. Mối
quan hệ giữa kinh tế và văn hoá cũng như văn hoá và phát triển không chỉ thu
hút sự quan tâm của giới nghiên cứu mà còn của nhiều chính phủ và các tổ chức
quốc tế. Ở nước ta, trong mối quan hệ này, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng
định, kinh tế phát triển là cơ sở để xây dựng và phát triển nền văn hóa. Đồng
thời, Đảng ta đã đưa ra quan điểm “ Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,
vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.[1] Sự
phát triển kinh tế phải hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp để phục vụ con người,
phục vụ nhân dân. Mặt khác, cần khai thác văn hóa như một động lực, như một
nguồn lực để phát triển kinh tế. Bài viết sẽ giới thiệu một số quan điểm về mối
quan hệ này trên thế giới hiện nay.
Văn hoá trong sự phát triển kinh tế
Adam Smith (1723-1790), nhà kinh tế học nổi tiếng, ngay từ thế kỷ XVIII đã cho rằng, kinh tế không thể vận hành nếu thiếu sự hiểu biết về vai trò của “quan điểm đạo đức”. Có thể nói, mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá đã trở thành mối quan tâm từ lâu của nhân loại.

Một tạp chí đầu hàng đầu về kinh tế
quan tâm đến những vấn đề kinh tế ở các nước đang phát triển mang tên Phát triển
kinh tế và Biến đổi văn hoá (Tạp chí Economic Development and Cultural Change của
Đại học Chicagô). Việc lấy tên của tạp chí như vậy, đã chứng tỏ một nhận thức căn
bản rằng văn hoá được hiểu trong quá trình phát triển ở các nước nghèo có mối
quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế. Điều đó cũng có nghĩa là, quá trình
biến đổi văn hoá đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của qúa trình
xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế ở các nước kém phát triển. Nhiều bài
viết đăng trên tạp chí này đã tìm hiểu văn hoá theo nhận thức đó.
Trong những phân tích về sự tăng trưởng
kinh tế của các nước phát triển, ít khi chúng ta tìm thấy vai trò của văn hoá
trong sự tác động hay điều hoà các hoạt động kinh tế. Sự tăng trưởng kinh tế được
đo bằng sự tăng lên của đời sống vật chất vẫn là mục tiêu trọng tâm trong chính
sách kinh tế của hầu hết các quốc gia này. Các nhà kinh tế học thường có chung
một nhận thức rằng thành tựu tăng trưởng kinh tế có thể đạt được qua việc xem xét
các nhân tố như năng suất, công nghệ, chuyển dịch công nghiệp, cổ phần, mức độ đầu
tư, dòng vốn… Yếu tố văn hoá bị bỏ qua trong những phân tích về các hoạt động
kinh tế.
Vậy thực chất vai trò của văn hoá
trong quá trình phát triển kinh tế cả ở các nước phát triển và các nước đang phát
triển là như thế nào? Không thể trả lời câu hỏi này nếu chúng ta chỉ hiểu văn
hoá theo nghĩa hẹp: chỉ là các hoạt động văn hoá. Văn hoá ở đây cần phải được
hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu chúng ta
chấp nhận một định nghĩa rộng về văn hoá rằng văn hoá được xem là toàn bộ các
giá trị, niềm tin, truyền thống và phong tục… tạo nên bản sắc và gắn kết các thành
viên trong cộng đồng với nhau thì chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng văn hoá sẽ ảnh
hưởng qua cách mà các cá nhân trong cộng đồng nghĩ và hành động và cũng tác động
mạnh mẽ đến cách ứng xử của cộng đồng. Đối với những cộng đồng có qui mô nhỏ như
một doanh nghiệp, nơi mà bản sắc được xây dựng trên tinh thần hợp tác, hay đối
với cộng đồng lớn như một quốc gia, nơi mà các giá trị được các cá nhân chia sẻ
có thể bao gồm các niềm tin tôn giáo, tập quán xã hội, các giá trị truyền thống…
Trong cả hai trường hợp đó, yếu tố văn hoá được kết tinh thành bản sắc, giá trị
sẽ hình thành diện mạo của cá nhân và do đó quy định hành vi kinh tế của họ. Chúng
ta có thể nói cụ thể hơn về sự tác động của văn hoá đến hiệu quả kinh tế của cộng
đồng theo ba hướng sau:
Thứ
nhất, văn hoá ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế thông qua sự thúc đẩy các giá
trị được chia sẻ trong cộng đồng. Các giá trị đó cũng quy định cách thức mà các
thành viên của cộng đồng thực hiện trong các quá trình sản xuất mang tính kinh
tế. Chẳng hạn như nếu các giá trị văn hoá này khiến việc ra quyết định trở nên
có hiệu quả hơn, đưa đến những sự cải tiến đa dạng và nhanh chóng hơn và đưa đến
những ứng xử đối với sự thay đổi một cách nhạy bén hơn thì năng suất kinh tế và
tính năng động của cộng đồng cũng được phản ánh qua hiệu quả kinh tế cao hơn
(trong trường hợp của một doanh nghiệp) hay qua tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn
(trong trường hợp của một nền kinh tế quốc gia)
Thứ hai,
văn hoá có thể ảnh hưởng đến tính công bằng - chẳng hạn như bằng việc ghi nhớ
những nguyên tắc đạo đức như sự quan tâm đến mọi người hay sự thiết lập các cơ
chế để những khúc mắc có thể được bày tỏ. Nhìn
chung, ảnh hưởng của văn hoá đến tính công bằng sẽ được xem xét trong các quyết
định phân phối nguồn lực của cộng đồng đến việc đạt được thành quả cho tất cả các
thành viên một cách công bằng.
Thứ ba,
văn hoá có thể được xem như là có ảnh hưởng hay thậm chí quyết định đến mục tiêu
kinh tế và xã hội của cộng đồng. Ở cấp độ một cộng đồng nhỏ như một công ty,
văn hoá doanh nghiệp có thể là sự quan tâm đến người lao động và điều kiện lao động
của họ. Những giá trị này có thể làm giảm lợi nhuận hay những mục tiêu kinh tế
khác trong mục tiêu chung của công ty. Ở cấp độ toàn xã hội, giá trị văn hoá có
thể hoàn toàn hài hoà với sự theo đuổi các thành tựu vật chất, tăng thành tựu
kinh tế vĩ mô. Mặt khác, văn hoá cũng có thể kiềm chế sự theo đuổi các thành tựu
vật chất để ưu tiên cho các mục tiêu phi vật chất liên quan đến chất lượng mọi
mặt của cuộc sống, do đó ảnh hưởng đến tốc độ và chiều hướng của tăng trưởng
kinh tế. Qua ba con đường này, ảnh hưởng của văn hoá đến hành vi cá nhân sẽ được
phản ánh trong hiệu quả mang tính tập thể. Vì vậy, chẳng hạn như, ở mức độ tổng
thể chúng ta có thể quan sát ảnh hưởng của văn hoá đến thành tựu kinh tế vĩ mô
liên quan đến các chỉ số năng suất như tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân đầu người,
tỷ lệ thay đổi công nghệ, mức độ việc làm, tỷ lệ và chiều hướng biến đổi cấu trúc
… và liên quan đến các chỉ số bình đẳng như phân phối thu nhập, an sinh xã hội
(đặc biệt các chương trình chăm sóc cho người già yếu, bệnh tật), cung cấp các
dịch vụ cộng đồng và (phản ánh mối quan tâm tới bình đẳng giữa các thế hệ) sự sẵn
sàng để thực hiện các chương trình đầu tư công dài hạn mà không thể đem đến lợi
ích trực tiếp đối với thế hệ hiện nay. Tuy nhiên, thái độ hoài nghi của các nhà
kinh tế học vẫn còn tồn tại, đặc biệt ở cấp độ kinh tế vĩ mô. Câu hỏi luôn được
họ quan tâm là: các nhân tố văn hoá có đóng vai trò trong việc quyết định các
hoạt động kinh tế ở các quốc gia khác nhau hay không và nếu có thì nó sẽ tác động
ở mức độ nào? Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời trong công trình nghiên cứu
của Mark Casson - giáo sư kinh tế học thuộc Đại học Reading (Anh). Ông cho rằng
“kinh tế là tạo nên sự tiến bộ trong sự hài hoà với văn hoá.”[2] Công
trình nghiên cứu của ông đã cố gắng chỉ rõ các biến văn hoá có ảnh hưởng đến mối
quan hệ giữa các tổ chức như sự hợp tác và cạnh tranh, mối quan hệ bên trong tổ
chức như hành vi của các thành viên trong tổ chức, và công nhận những ảnh hưởng
của chúng đến hiệu quả kinh tế trong các môi trường văn hoá khác nhau. Những
nghiên cứu về các nguồn lực cho sự tăng trưởng của Nhật Bản thời kỳ hậu chiến,
hay gần đây hơn là sự tăng trưởng của Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapo đã
củng cố thêm cho luận điểm của Mark Casson. Ở những quốc gia và khu vực này, các
nhân tố kinh tế đã đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh
tế bao gồm sự quản lý kinh tế vĩ mô một cách ổn định (‘trở thành một quyền cơ bản’),
đẩy mạnh tính cạnh tranh, định hướng xuất khẩu mạnh, sức ép đối với việc bắt kịp
sự thay đổi công nghệ, đầu tư và vốn con người… Tuy nhiên, yếu tố văn hoá bắt
nguồn từ học thuyết Nho giáo cũng đã góp phần quan trọng tạo nên những điều kiện
cho sự thành công của kinh tế ở những nước nói trên. Những nhân tố này bao gồm
việc quan tâm đến phúc lợi xã hội, sự tôn trọng giữa các nhóm, đạo đức lao động
được định hướng bởi hiệu quả, vai trò của gia đình, niềm tin vào nhu cầu học tập,
đề cao tính tôn ti và quyền lực… Đặc biệt xem xét kỹ trường hợp Nhật Bản, chúng
ta có thể quan sát thấy các nhân tố như tôn giáo, gia đình, sự hợp tác trong một
xã hội thuần nhất đã hình thành nên các thể chế hợp tác và thiết chế công ở Nhật
Bản cũng như cách thức hợp tác của họ. Bằng cách này các nhân tố văn hoá căn bản
của Nhật Bản đã thấm vào mọi khía cạnh đời sống kinh tế của Nhật Bản.
Một vấn đề đang đặt ra cho các nhà
khoa học khi nghiên cứu tác động của văn hoá với phát triển kinh tế là các nghiên
cứu này không chỉ dừng lại ở những kết quả định tính mà phải định lượng được sự
tác động đó. Một số thành công trong thu thập và hiểu các thông tin thực nghiệm
đối với văn hoá và kinh tế bắt đầu xuất hiện. Sự đo lường những đặc trưng văn
hoá thích hợp và tập hợp các đặc trưng đó trong các mô hình tăng trưởng kinh tế
ở một số quốc gia là điểm khởi đầu để chỉ ra một cách rõ nét hơn tầm quan trong
mang tính định lượng của bối cảnh văn hoá trong các hoạt động kinh tế. Chẳng hạn,
Ronald Inglehart đã thống kê những thái độ của cá nhân đối với tôn giáo, công
việc, gia đình và các vấn đề xã hội qua sự rà soát một số lớn các quốc gia và
liên hệ chúng với sự thành công trong kinh tế. Một cách tiếp cận khác đối với
phân tích định lượng của HsinHuang Michael Hsiao rằng các nhân tố văn hoá nên được
hiểu thực chất là hành vi xã hội của cá nhân hơn là một tập hợp của những sắp xếp
văn hoá đã được thể chế hoá ở cấp độ quốc gia. Ở cấp độ này ông đề nghị rằng có
thể liên hệ một hành vi văn hoá với các hoạt động kinh tế. Như vậy, dù chúng ta
tiếp cận trên phương diện vi mô hay vĩ mô thì các tác động của văn hoá cần được
cụ thể hoá và đo lường. Các lý thuyết về đóng góp của chúng đối với phát triển
kinh tế cũng cần được kiểm nghiệm đầy đủ.
Văn hoá và phát triển bền vững
Cũng như vai trò của văn hoá đối với
kinh tế, nhận thức về vai trò của văn hoá với phát triển trên thế giới là cả một
quá trình với những thay đổi hết sức quan trọng. Giữa thế kỷ XX, ở các nước phương
Tây, phổ biến quan điểm cho rằng phát triển đồng nhất với tăng trưởng kinh tế,
sự phát triển kinh tế vẫn được hiểu là sự tăng trưởng về các thành tựu vật chất.
Nhà kinh tế học được Giải Nobel năm 1971 thuộc Đại học Pennsylavania Simon Kuznets
đã viết ‘chúng ta xác định tăng trưởng
kinh tế của quốc gia là sự gia tăng liên tục bình quân đầu người’[3]. Sau
đó, quan điểm hạn chế này đã bị thay thế bởi một khái niệm phát triển phản ánh
nhu cầu xã hội rộng lớn hơn và mong muốn cải thiện mức sống. ‘Phát triển’ trong
nhận thức chung được hiểu bao gồm sự tiến bộ trong sự giàu có về vật chất được đo
bằng sự gia tăng của GDP trên đầu người hay thu nhập thực, nhưng nó cũng bao gồm
sự biến đổi trong các chỉ số xã hội phản ánh chất lượng sống của con người như
mức dinh dưỡng của người dân, tình trạng sức khoẻ, mức độ biết chữ, mức độ tham
gia vào giáo dục, tiêu chuẩn của các dịch vụ an sinh xã hôi và dịch vụ công cũng
như các chỉ số môi trường như chất lượng không khí và nước. Các phép đo bình quân
đầu người một cách giản đơn được thực hiện trên toàn bộ dân số đã giấu đi sự bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập và của cải. Tầm quan trọng của việc phân phối
lại thu nhập hiện nay đã được nhìn nhận là một nhân tố quan trọng trong quá trình
phát triển. Quan điểm đó đã được hợp lý hoá qua việc chỉ ra những nhu cầu cơ bản
của con người, những nhu cầu có thể được thoả mãn bởi những điều kiện vật chất như
thực phẩm, nhà cửa và quần áo. Hơn thế, con người còn mong muốn nâng cao các mặt
khác của chất lượng sống bao gồm các yếu tố phi vật chất như sự hài hoà của môi
trường cũng cần phải được bảo đảm thông qua những thành tựu kinh tế vật chất. Rõ
ràng, mô hình này có rất ít hoặc không có vai trò cho văn hoá. Theo quan điểm của
Vernon Ruttan, “sự quan tâm đến văn hoá đã bị đẩy xuống đáy của tư duy và thực
hành phát triển.”[4]
Ông đã khẳng định, không có một nhà kinh tế học phát triển nào đồng ý với giả định
rằng, biến văn hoá có thể là biến quan trọng trong việc giải thích sự phát triển
của chính trị và kinh tế. Các tác phẩm chính thống trong phát triển kinh tế thời
kỳ này không có chỗ cho văn hoá.
Mặc cho xu hướng chính thống này, vẫn có một số
dấu hiệu của sự chuyển đổi trong tư duy phát triển, liên quan đến việc tập
trung vào nguồn lực con người, con người được xem như là chủ thể và khách thể của sự phát
triển. Quan điểm lấy hàng hoá là trung tâm của phát triển kinh tế đã phải nhường
chỗ cho chiến lược lấy con người làm trung tâm của phát triển con người. Sự
chuyển đổi này diễn ra vào cuối những năm 1980 khi Chiến lược phát triển của Liên
hợp quốc (UNDP) cho giai đoạn thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đã nhấn mạnh phát triển
con người là sự tập trung chính của nó và Chương trình phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) đã công bố bản Báo cáo phát triển con người đầu tiên vào năm 1991. Mục
tiêu của phát triển con người được hiểu là để tăng khả năng của người dân trong
việc làm chủ cuộc sống mà họ mong muốn. Amartya Sen, nhà kinh tế học, nhà triết
học nổi tiếng của Ấn Độ, người được giải thưởng Nobel kinh tế học năm 1998 cho
rằng, mặc dù sản lượng bình quân đầu người tăng có thể mở rộng các năng lực đó,
song mối quan tâm của phát triển không phải chỉ là sản lượng. Theo quan điểm của
ông, trọng tâm các chính sách phát triển nên là “sự thúc đẩy khả năng của con người để
làm chủ cuộc sống, để sống một cách khoẻ mạnh, để có thể tiếp nhận được kho kiến
thức và thông tin của thế giới, để tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng,
để có đủ thu nhập đảm bảo đủ lương thực, quần áo và nhà cửa, để tham gia trong
những quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ và công đồng của họ…
Những vấn đề tăng khả năng của con người, thúc đẩy năng lực của họ không chỉ nằm
trong sự mở rộng sản xuất trong nước mà cần phải là mục tiêu của chính sách phát
triển”.[5]
Định hướng lại tư duy phát triển
theo hướng trên rõ ràng có hàm ý mang tính văn hoá. Con người như là chủ thể và
khách thể của phát triển không tồn tại trong sự cô lập. Họ tương tác theo nhiều
cách và nơi mà sự tương tác đó diễn ra được cung cấp bởi văn hoá của họ - những
niềm tin, giá trị, ngôn ngữ, truyền thống được chia sẻ trong cuộc sống hàng ngày.
Việc định nghĩa lại khái niệm phát triển đã khiến cho văn hoá từ một vị trí bên
lề đã được chuyển vào vi trí trung tâm của phát triển. Trong quan điểm này, phát
triển con người và phát triển văn hoá đã thẩm thấu vào lý thuyết một cách đầy đủ
hơn trong thế giới đang phát triển. Cũng như hệ sinh thái hỗ trợ bầu khí quyển,
văn hoá “sẽ hỗ trợ bầu không khí xã hội, cả hai sẽ cung cấp tính bền vững cho đời
sống kinh tế trong phạm vi tương ứng với chúng.”[6]
Những ý tưởng trên bắt đầu được phản
ánh trong cách tiếp cận đối với chính sách phát triển trong cộng đồng quốc tế.
Chẳng hạn như tại Hội nghị Liên Chính phủ về chính sách văn hoá cho phát triển
tổ chức tại Stockholm vào tháng 4 năm 1998, 150 nước tham dự đã nhất trí coi chính
sách văn hoá là một trong những thành tố chính của chiến lược phát triển. Các
chính phủ được đề nghị thiết lập các chính sách để công nhận tầm quan trọng của
văn hoá trong phát triển. Trong thế giới hỗ trợ phát triển, chúng ta có thể nhận
thấy vai trò của văn hoá trong sự phát triển bền vững đã chiếm vị trí ưu tiên
trong tư duy phát triển. Chúng ta sẽ xem xét văn hoá được nhìn nhận như thế nào
trong thế gới ngày nay về hỗ trợ phát triển song phương và đa phương. Dưới đây
là ba khía cạnh cần quan tâm.
Thứ nhất là,
nếu thực tế quá trình toàn cầu hoá chuyển tải những giá trị vật chất và dạng
chuẩn hoá của văn hoá đại chúng thì nó được xem là mối đe dọa tiềm tàng đối với
sự khác biệt văn hoá dân tộc. Bởi vậy mục tiêu hỗ trợ phát triển ngày càng quan
trọng trong bất cứ lĩnh vực nào đều là việc nuôi dưỡng và xây dựng các giá trị
văn hoá dân tộc.
Thứ hai là,
trong việc thiết kế các chương trình và dự án phát triển việc đáp ứng yêu cầu
can thiệp đối với phong tục và tập quán địa phương, việc sử dụng chuyên gia và
tri thức bản địa, việc coi trọng sự tương tác văn hoá giữa các cộng đồng luôn được
quan tâm chú ý. Trong hoạt động thực tế, đây là bằng chứng của quá trình tìm kiếm
sự thiết kế và thực hiện chiến lược phát triển theo hướng từ dưới lên trên.
Thứ ba là,
trong các chương trình đặc biệt hướng đến đối tượng nghèo cần nhận ra tầm quan
trọng của việc thể chế hoá văn hoá nhằm nâng cao năng lực cho cộng đồng và tính
tự chủ của họ. Vì vậy, các chương trình giảm nghèo có thể hiệu quả hơn nếu được
định hướng bởi các mục tiêu văn hoá, thúc đẩy sự nhận thức và thể hiện văn hóa
cùng với cải thiện đời sống vật chất.
Những mối quan tâm trên đang bắt đầu
có ảnh hưởng thông qua các tổ chức hỗ trợ phát triển, các cơ quan cứu trợ, các
tổ chức phi chính phủ (NGO) và các nhà tài trợ. Chẳng hạn như Ngân hàng thế giới
(WB) đã giải thích rõ thực tế rằng văn hoá có thể đóng góp trực tiếp đối với những
chiến lược phát triển chính của tổ chức này. WB coi văn hoá trong bối cảnh phát
triển là nhằm:
· Cung
cấp các cơ hội cho các cộng đồng nghèo để tạo ra thu nhập từ những tri thức và
sản xuất văn hoá riêng của họ và để thoát nghèo.
· Gây
xúc tác với sự phát triển ở cấp cơ sở thông qua các nguồn lực xã hội, văn hoá,
kinh tế và lao động mà cộng đồng phải tiếp cận.
· Duy
trì và tạo ra thu nhập từ hệ văn hoá hiện tồn thông qua việc làm sống lại các
trung tâm thành phố, bảo tồn các tài sản thiên nhiên nổi tiếng mang tính xã hội
và tạo ra thu nhập từ du lịch một cách bền vững.
· Tăng
cường vốn xã hội đặc biệt cung cấp cơ sở để các nhóm nghèo có thể theo đuổi các
hoạt động thúc đẩy tính tự tôn, tính hiệu quả và thúc đẩy việc đề cao sự đa dạng
để chúng có thể chia sẻ trong các lợi ích của sự phát triển kinh tế.
· Đa
dạng hoá chiến lược phát triển con người và xây dựng năng lực cho một xã hội năng
động dựa trên nền tảng tri thức - chẳng hạn như thông qua hỗ trợ xuất bản ở cơ sở,
dịch vụ thư viện, dịch vụ bảo tàng đặc biệt những dịch vụ để phục vụ các cộng đồng
nghèo đói và trẻ em.[7]
WB đang theo đuổi chương trình hoạt
động trên trước hết qua những nỗ lực để đưa sự quan tâm văn hoá vào các chiến lược
của họ trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục. Thứ hai là, để thúc đẩy
văn hoá trong hoạt động phát triển cộng đồng cấp cơ sở. Thứ ba là, để thực hiện
những dự án văn hoá đặc biệt tại các quốc gia có khoản vay như là các dự án bảo
tồn di sản.
Kết luận
Như vậy, thế giới đang diễn ra sự chuyển đổi mô hình phát triển trong ý tưởng về bản chất của sự tăng trưởng và sự phát triển, hướng đến một nhận thức về vai trò của văn hoá trong việc tác động đến các hoạt động kinh tế ở các cộng đồng nhỏ và các cộng đồng lớn và đặc biệt nhấn mạnh các quá trình tăng trưởng và sự thay đổi ở các nước đang phát triển. Trung tâm của sự chuyển đổi này là việc định hướng lại tư duy phát triển từ một mô hình phát triển lấy hàng hoá vật chất làm trung tâm sang mô hình lấy con người làm trung tâm. Sự chuyển đổi trong tư duy phát triển này ngày càng hiện hữu trong chính sách của nhiều quốc gia trên thế giới . Khẳng định điều đó cho chúng ta nhận thức rõ hơn cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đảng ta đã đề ra: văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực cho sự phát triển của đất nước.
Lê Xuân Kiêu
[1] Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTW khoá VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998, tr55
[2] Casson,
Mark C. (1991) Economics of Business Culture: Game Theory, Transaction Costs
and Economic Performance,
[3] Simon Kuznets(1966), Modern Economic Growth:
Rate, Structure, and Spread.
[4] Vernon Ruttan,(2003) Social Science Knowledge and Economic Development,
[5] David Throsby,(2001) Kinh tế và văn hoá, Nxb Đại
học
[6] David
Throsby,(2001) Kinh tế và văn hoá, Nxb Đại học
[7] David
Throsby,(2001) Kinh tế và văn hoá, Nxb Đại học