Hữu Thỉnh: Nhịp cầu văn học và lương tâm nhà văn

(Phát biểu của Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
tại Hội thảo văn học Việt-Mỹ sau chiến tranh,
 do Trường ĐHVH Hà Nội tổ chức tại tỉnh Hoà Bình, ngày 2-6-2010
)

Xin cám ơn Trường Đại học Văn hoá Hà Nội cho tôi được tham dự cuộc gặp mặt nhiều ấn tượng này!

Câu chuyện "Văn học Việt Mỹ sau chiến tranh" là một bức tranh khá phong phú và rộng lớn về không gian và thời gian, về con người và các sự kiện. Rất tiếc nhiều người tham gia vào quá trình đó hôm nay không có mặt tại đây. Nhưng không sao, miễn là chúng ta không bao giờ quên họ. Trong sự mở đầu, chúng ta bắt gặp câu hỏi “Văn học Việt Nam đến Mỹ bằng cách nào?”. Đương nhiên có những lý do văn học, nhưng cũng có những lý do rộng lớn hơn - đó là sự thôi thúc muốn tìm hiểu khối bí mật về đất nước và con người Việt Nam một thời bị coi là kẻ thù của nước Mỹ. Bước đi khá sớm trong cố gắng này là trường Đại học Harvard, ngay từ năm 1982 đã tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế tầm cỡ với chủ đề "Văn học Việt Nam giữa hai cuộc thế chiến". Người có công trong cuộc hội thảo này là giáo sư danh tiếng Hồ Huệ Tâm. Trong số khách mời có G. Boudarel và giáo sư Trần Văn Khê từ Pháp sang. Hai giáo sư Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ có lẽ là những khách văn đầu tiên của Việt Nam đến Mỹ để tham dự cuộc Hội thảo này. Tiếp đó Giáo sư Peter Zinoman ở Đại học Berkeley đã dịch Số đỏ  của Vũ Trọng Phụng, một tác phẩm được dư luận Mỹ đánh giá là một trong 50 cuốn tiểu thuyết nước ngoài hay nhất được xuất bản tại Mỹ. Trước đó, giáo sư Huỳnh Sanh Thông dày công dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du, Ngục trung ký của Phan Bội Châu và Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thú vị và khó khăn nhất có lẽ là công trình dịch thơ  Hồ Xuân Hương của giáo sư John Balaban, lần đầu xuất bản 2 vạn cuốn bán hết trong vòng gần hai năm. Một người Mỹ khác rất quen thuộc ở Việt Nam là giáo sư Joseph Duemer đã dành nhiều năm sang Việt Nam giúp đỡ Nhà xuất bản Thế giới nhuận sắc những bản dịch Anh ngữ.


Nhà thơ Hữu Thỉnh phát biểu tại Hội thảo

Và tôi muốn nhắc đến ở đây một nhà văn Hoa Kỳ gần như hy sinh cả đời mình cho Việt Nam là nữ nhà văn Lady Borton. Chị đã tập đi làm ruộng với các má Bến Tre và làm các công việc từ thiện, giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh ở nhiều địa phương của Việt Nam và có lẽ chị là một trong số các nhà văn Hoa Kỳ viết nhiều nhất và sớm nhất về Việt Nam. Tôi xin phép dừng lại danh sách các dịch giả văn học Việt Nam sang Mỹ tại đây để dành thời gian nói đến địa chỉ quen thuộc là Trung tâm William Joiner.

Nhắc đến Trung tâm William Joiner là nhắc đến một chặng đường 20 năm quan hệ hợp tác với Hội Nhà văn Việt Nam với những tên tuổi, những kỷ niệm, những công việc rất đáng ghi nhớ. Hình ảnh cây cầu biểu trưng trong Hội thảo này có thể là cây cầu văn học nối Việt Nam và Mỹ, và cũng có thể là cây cầu văn học nối Hội Nhà văn Việt Nam với Trung tâm William Joiner. Qua cây cầu ấy nhiều cựu chiến binh Mỹ đã được chào đón tại Việt Nam, có dịp đi sâu tìm hiểu nền văn học của chúng tôi, tìm hiểu quyết tâm to lớn của nhân dân chúng tôi xây dựng lại đất nước sau những tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Chúng tôi cần hoà bình và ổn định lâu bền để thực thi sự nghiệp to lớn đó. Và nhiều nhà văn cựu chiến binh Việt Nam đã được đón tiếp trên đất Mỹ. Cảnh những người lính từng ở hai trận tuyến, giờ đến sống trong nhà của nhau, quây quần nói chuyện văn chương... có thể xem là một chuyện lạ với thế giới. Hai mươi năm ấy chúng tôi hiểu những khó khăn mà các bạn đã vượt qua. Và chúng tôi đánh giá cao nghị lực của các bạn chống lại hận thù và mọi rào cản để ủng hộ Việt Nam. Quả là cả hai bên đều đã biết vượt lên, biết nhìn về phía trước trong những nỗ lực không mệt mỏi. Đó có thể xem là một nghệ thuật sống và cũng là nghệ thuật văn chương.

Cần phải nói lên ở đây lời cám ơn những cố gắng của Trung tâm William Joiner về việc nhiều tác phẩm văn học của các cựu chiến binh Việt Nam được xuất bản ở Mỹ. Qua những cuốn sách ấy, bạn đọc Hoa Kỳ có thể tiếp cận vẻ đẹp của lòng yêu nước, khát vọng độc lập tự do, sức mạnh chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đã làm thất bại bộ máy chiến tranh khổng lồ của nước Mỹ và những tham vọng phía sau những khẩu súng. Gấp lại những cuốn sách, bạn đọc Mỹ có thể cảm nhận đầy đủ thông điệp hoà bình của các nhà văn Việt Nam. Gần đây Kevin Bowen đã kể cho chúng ta nghe con đường anh trở lại Việt Nam bắt đầu những chuyến đi từ năm 1986, 1987 dẫn đến cuộc gặp mặt đầu tiên các nhà văn cựu chiến binh Mỹ và Việt Nam bên Hồ Tây, Hà Nội vào mùa hè cách đây 20 năm. Câu chuyện khiến tôi liên tưởng đến việc hạ thuỷ những con tàu và việc thiết kế những bến cảng. Những con tàu chỉ quyết định ra khơi khi biết có bến cảng ở phía trước. Bến cảng đầu tiên chào đón các nhà văn cựu chiến binh của Trung tâm William Joiner là Hội Nhà văn Việt Nam.


Hội thảo quốc tế "Văn học Việt - Mỹ sau chiến tranh"

Tôi nhớ đến các nhà văn Vũ Tú Nam, Nguyễn Quang Sáng, Chính Hữu, Nguyên Ngọc, Hữu Mai, bộ phận thường trực của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá IV, đã có công đầu tổ chức cuộc gặp mặt đó, một cuộc gặp mặt lịch sử diễn ra 5 năm trước khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được thiết lập đầy đủ.

Chúng tôi muốn nhắc lại với các bạn rằng, giao lưu văn học Việt-Mỹ diễn ra khá sớm và chưa hề bị gián đoạn, ngay cả những năm chiến tranh ác liệt nhất. Thế hệ chúng tôi đã từng đọc Hemingway, Witteman, Jack London, Arthur Miller, Langston Hughes và nhiều nhà văn khác. Ngay cả Chùm nho nổi giận của John Steinbeck cũng được xuất bản tại Hà Nội gần như cùng một lúc với việc ông tham gia hành binh tại Tây Ninh. Sau chiến tranh, văn học Mỹ được giới thiệu tại Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn. Bạn đọc Việt Nam bắt đầu làm quen với những tên tuổi mới, trong đó có Kevin Bowen, Bruce Weigl, Larry Heinemann, Nguyễn Bá Chung, George Evans, Martha Collins, Lady Borton, Fred Marchant... Chúng tôi đã đọc các bạn và đi đến những quan sát, đối sánh giữa hai nền văn học. Có người nói rằng, văn học Mỹ mạnh về hiện đại, còn văn học Việt Nam mạnh về dân tộc. Cần phải tìm hiểu sâu hơn ý kiến này với tinh thần cùng học tập tiếp nhận các tinh hoa của nhau để làm giàu nền văn học của mỗi nước.

Cần phải có sự nhìn lại một cách chu đáo chặng đường 20 năm qua trên một nhận thức chung: giao lưu văn học phải góp phần xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị, cùng hợp tác cùng phát triển giữa hai dân tộc. ý tưởng này chúng tôi đã có dịp triển khai một cách sinh động trong Hội nghị Quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam lần thứ hai vừa được tổ chức đầu năm nay, tại Hà Nội và Quảng Ninh, trong đó có sự tham gia tích cực của Đoàn nhà văn của Trung tâm William Joiner. Sau Hội nghị này, chúng tôi đang bắt tay xây dựng Dự án đẩy mạnh giao lưu văn học trong tầm nhìn 10 năm (2010-2020) với mục tiêu tuyển chọn, giới thiệu một cách đồng bộ, cơ bản và hệ thống các tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam ra nước ngoài. Để làm được công việc to lớn đó, cần phải xây dựng Quỹ Hỗ trợ Giao lưu Văn hoá cấp quốc gia, cần phải thiết lập một Trung tâm Dịch thuật thuộc Hội Nhà văn Việt Nam với sự tư vấn của một hội đồng tuyển chọn bao gồm các nhà văn có uy tín nhất, và sau đó phải xây dựng cơ chế, chính sách với các dịch giả và các nhà xuất bản trong và ngoài nước.  Đó là những công việc hết sức mới mẻ, mang tính đột phá, đưa giao lưu văn học lên một tầm cao mới. Công việc nhìn lại 20 năm giao lưu văn học giữa Hội Nhà văn Việt Nam và Trung tâm William Joiner, với tư cách là một chủ thể, chúng tôi sẽ bàn bạc với các bạn để tiến hành trong tầm nhìn nói trên.

Thưa các bạn,

Cũng trong bài viết in báo Văn nghệ số 22 ra ngày 29-5-2010 với đầu đề Hoà bình, tình yêu, sự mở mắt, nhà thơ Kevin Bowen đã viết rất đúng rằng "với nhiều người, chiến tranh chưa kết thúc". Đây là một thu hoạch hàm súc nhưng rất quan trọng sau hàng chục chuyến đi Việt Nam của tác giả. Trong nhiều hậu quả chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, có vấn đề "chưa kết thúc" - đó là vấn đề chất độc da cam với những di chứng chấn động lương tâm. Trên đất nước chúng tôi, ở đâu cũng có thể gặp những cựu chiến binh và con cái của họ chịu tác hại trực tiếp của chất độc da cam. Biết bao trẻ em sinh ra nhưng không được làm người, theo cái nghĩa bình thường và đầy đủ nhất của nó. Nước mắt vẫn không ngừng nức nở. Nỗi đau chưa hề kết thúc. Nhân dân chúng tôi rất kiên nhẫn để buộc những người có trách nhiệm nhìn thẳng vào sự thật và cần có những hành động thức thời phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo và đạo lý quốc tế. Nhân danh lương tâm của con người, các nhà văn hai nước chúng ta cần phải làm gì và có thể làm gì để chia sẻ và làm giảm bớt những nỗi đau nói trên?

 Với chức năng là Trung tâm Nghiên cứu chiến tranh và các hậu quả, Trung tâm William Joiner có nhiều lợi thế để hướng dẫn dư luận lành mạnh của Mỹ và nhiều nước khác buộc những người gây ra hậu quả phải có trách nhiệm trước đòi hỏi cấp bách và chính đáng của những nạn nhân. Hàng triệu con người trên thế giới đã lên tiếng ủng hộ họ. Nỗi đau đang gào thét từng giờ. Tình hình không còn có thể chậm muộn hơn được nữa. Vấn đề mang tầm nhân đạo to lớn này đã được các nhà văn Việt Nam phản ánh trong nhiều tác phẩm gây xúc động lòng người. Hy vọng rằng, vấn đề mà tôi nêu ra ở đây hôm nay không nằm ngoài mối quan tâm của chúng ta, những nhà văn, nhân danh là lương tâm của dân tộc và thời đại.

Xin cám ơn và chúc sức khoẻ các bạn.

Hà Nội, Chủ nhật 30/5/2010.

Hữu Thỉnh

 

Bài đã đăng báo Văn nghệ

 
 

Lượt xem: 5014

Lên đầu trang

Tiêu điểm
Xem nhiều
Loading
Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang truy cập : 579
Lượt truy cập : 7354244
Locations of visitors to this page
 
Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội - Hanoi University Of Culture
Địa chỉ: 418 Đường La Thành - Quận Đống Đa - Hà Nội - Việt Nam
Tel:(84-4)38511971 * Fax:(84-4)35141629 * Email daihocvanhoahanoi@huc.edu.vn