Chùa Hưng Long: di tích 999 tuổi(ĐHVH) - Về thăm quê
hương Đông Mỹ (thuộc huyện Thanh Trì – thành phố Hà Nội) hôm nay, hẳn nhiều
người ngỡ ngàng bởi sự thay da đổi thịt nhanh chóng của vùng đất này. Làng đã
gần với phố, ruộng lúa bờ tre nằm cạnh nhà máy xí nghiệp, nhưng vẻ đẹp và sự
hài hòa của cảnh quan môi trường như muốn níu giữ chân khách thập phương. Ai đã
về Đông Mỹ hẳn sẽ biết đến một địa chỉ tâm linh nổi tiếng – chùa Hưng Long ở
làng Đông Phù. Đây là ngôi chùa được khởi dựng từ năm 1011 do chính vua Lý Thái
Tổ ban chiếu và cấp tiền xây dựng. Đến nay, chỉ còn hơn hai tháng nữa Thăng
Long – Hà Nội tròn 1000 năm, thì di tích lịch sử văn hóa này cũng đã 999 tuổi.
Toàn cảnh chùa Hưng Long 1. Giá trị lịch sử - văn hóa của di tích ngàn năm Để cho khách thập
phương cùng bạn đọc có dịp tới thăm chùa Hưng Long, hiểu thêm về những giá trị lịch
sử, cách mạng, văn hóa, kiến trúc của di tích này, chúng tôi xin giới thiệu một
số nét cơ bản. Chùa Hưng Long, hay còn
gọi là: chùa Long Hưng, chùa Hưng Hóa, chùa Nhót, chùa Phù Liệt, chùa Đông Phù,…
Những tên gọi ấy đều chỉ ngôi chùa cổ Hưng Long Tự tọa lạc tại xã Đông Mỹ, huyện
Thanh Trì (Hà Nội). Sở dĩ có những tên gọi khác nhau là do tập quán của cư dân
địa phương, thường gọi tên chùa gắn với tên làng nơi ngôi chùa đó tọa lạc, hoặc
trong quá trình tu tạo phát hiện ra những dấu ấn, sự kiện đặc biệt, nên gọi theo
nhằm ghi lại dấu ấn, sự kiện đó. Tương truyền, đời vua
Lý Thánh Tông (1054-1072) đã có hai vị công chúa là Lý Từ Thục và Lý Từ Huy
cùng hai vị thị giả Quỳnh Hoa, Quế Hoa về ngôi chùa này xuất gia đầu phật, rồi
sau đó thu thần thị tịch tại Lăng Liên Hoa (cách chùa Hưng Long 1 km) nhằm ngày
15 tháng 3 năm Ất Hợi, niên hiệu Hội Phong thứ 4 (1095) đời vua Lý Nhân Tông
với đạo hiệu Đại thánh Bồ tát Lý Từ Thục và Đại thánh Bồ tát Lý Từ Huy, trở
thành hai vị sư tổ của chùa (nhân dân địa phương thường gọi là Nhị vị Bồ Tát).
Đến thời Lê sơ, hai công chúa được phong là Linh Thông Đại Bồ Tát. Hàng năm vào ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch, nhân dân các làng Đông Phù, Đông Trạch, Mỹ Ả, Chanh Khúc, Văn Uyên, Tương Trúc, Tự Khoát, Mỹ Liệt và Ninh Xá tổ chức mở hội tri ân công đức của hai vị công chúa nhà Lý đã cấp đất cho dân sản xuất, dạy dân làm nghề phụ lúc nông nhàn. Để tỏ lòng thành kính đức hạnh tu tập và công lao đóng góp của hai vị công chúa nhà Lý cùng hai vị thị giả, sau khi viên tịch, nhân dân tín đồ, phật tử đã tạc tượng và thờ ở vị trí trang trọng tại chùa Hưng Long (Đông Phù), chùa Hưng Phúc (Tự Khoát) và chùa Phổ Quang (Ninh Xá).
Tượng Bồ Tát được xây dựng giữa hồ “Theo các cụ cao tuổi ở
Đông Phù cho biết: những cây thông lớn bên đường cái (nay gọi là đường 70) là do
các bà (tức Lý Từ Thục và Lý Từ Huy - KHT) trồng từ ngày ấy, hơn 10 năm trước
vẫn còn toả bóng. Nơi các bà yên nghỉ, dân xây lăng. Chuyện kể rằng, khi các bà
mất, dân 10 làng đều muốn giữ việc thờ phụng. Các làng bên họp bàn, làng nào
xây được lăng trước, làng đó được giữ “trưởng nam”. Kết quả, người Ninh Xá hoàn
thành trước được giữ trọng trách này. Dưới các triều cũ, dân Ninh Xá được miễn
sưu thuế, cấp 10 mẫu 5 sào đất cấy hàng năm lấy hoa lợi thờ cúng. Lệ này được
giữ đến đời vua Gia Long mới thôi.” * Hội chùa Nhót có qui mô
khá lớn, thu hút hàng vạn người tham gia. Trong tâm thức người dân nơi đây, nhị
vị Bồ Tát vừa là hiện thân của Phật vừa là vị thần của làng bảo trợ cuộc sống
yên lành cho họ. Hội có sức cố kết nhân dân 10 làng. Mỗi năm mở hội, sức mạnh
của cộng đồng dân cư lại được thăng hoa. Chùa Hưng Long không
chỉ có giá trị lịch sử văn hóa, mà đây còn là một di tích cách mạng. Trong
những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi chùa là nơi hội
họp của tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội (1929), của Chi bộ Đảng Cộng
sản đầu tiên ở ngoại thành Hà Nội (1930) và là nơi tập hợp quần chúng trong
những ngày giành chính quyền cách mạng tháng Tám năm 1945. Gắn với những giá trị truyền
thống, xã Đông Mỹ là nơi địa linh nhân kiệt, chính nơi đây là quê hương của các
vị lão thành cách mạng có công với đất nước như: đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng
Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng chí Nguyễn Thọ Chân, nguyên Bộ
trưởng Bộ Lao động; đồng chí Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo và nhiều vị lão thành cách mạng khác. Năm 1990, Bộ Văn hóa –
Thông tin quyết định công nhận chùa Hưng Long là di tích lịch sử văn hóa quốc
gia. Đến năm 2004, UBND Thành phố Hà Nội công nhận quần thể di tích này là di
tích cách mạng. 2. Quần thể kiến trúc mới hài hòa kim cổ Kiến trúc của chùa mang
đậm nét truyền thống của ngôi cổ tự miền Bắc theo kiến trúc “nội công ngoại
quốc”, tiền Phật hậu Thánh. Chính điện là ban thờ Phật, hai bên thờ tượng Thập
Điện và Quán Thế Âm Bồ Tát (tọa sơn). Hai đầu hồi tiền đường đắp theo hình núi
đá để thờ điện Phật và các cảnh giới tu tập, thiện ác, nhân quả, luân hồi,
nghiệp báo theo tư tưởng của giáo lý Đức Phật, chính giữa có tượng Quán Thế Âm
Bồ Tát (chuẩn đề) và tượng Phật Di Lặc. Nối tiếp giữa tiền
đường chính điện là hai dãy hành lang mỗi bên gồm 11 gian thông nhau thờ tượng
Đức Ông và tượng Đức Thánh Hiền. Sau hậu cung tòa Tam Bảo là nhà tế, phía trước
gồm 3 gian thờ Nhị vị Bồ Tát (công chúa Lý Từ Thục, Lý Từ Huy và hai nàng hầu
Quỳnh Hoa, Quế Hoa).
Như vậy, chính cách bố
trí: giữa chính điện (Tam Bảo) và nhà thờ Nhị vị Bồ Tát cùng với hai dãy hành
lang thờ Đức Ông và Đức Thánh Hiền đã tạo nên kiến trúc khép kín theo kiểu
truyền thống “nội công ngoại quốc”, tiền Phật hậu Thánh. Di tích lịch sử văn hóa
cách mạng chùa Hưng Long cùng với di tích đình Đông Phù đã tạo nên cảnh quan
kiến trúc hoàn chỉnh về tín ngưỡng tâm linh và văn hóa địa phương, góp phần
cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Đông Mỹ ngày một thịnh vượng phát
triển và hội nhập chung của Hà Nội và đất nước. Ngày Giỗ tổ Hùng Vương
vừa rồi, hàng vạn khách thập phương đã hành hương về chùa Hưng Long lễ Phật, tỏ
lòng nhớ ơn tổ tiên. Mọi người đều ngỡ ngàng bởi sự khang trang bề thế của ngôi
chùa. Cách đây chưa đầy một năm, ngôi chùa chỉ là mấy gian nhà nhỏ đã xuống
cấp, vài gian nhà tranh tre làm chỗ nghỉ ngơi cho phật tử muôn phương. Vậy mà,
bây giờ ngôi chùa hiện lên thật đẹp, rộng rãi, thoáng mát, kiến trúc hài hòa. 3. “Mong sao tốt đời, đẹp đạo” Có được quần thể di tích nổi bật
như hôm nay, nhiều người nhắc đến công đầu của thầy trụ trì chùa là Đại đức
Thích Minh Tiến - Phó Chánh Văn phòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, một người
tâm huyết với đạo Phật và văn hóa nước nhà. Ngày 19/8/2008, Đại đức Thích Minh
Tiến được Thành hội Phật giáo Hà Nội và Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt
Sân chùa Hưng Long Tháng 9 năm 2008, nhà
chùa đã phối hợp với UBND xã Đông Mỹ cùng với các phòng ban chức năng của huyện
Thanh Trì và thành phố Hà Nội tổ chức quy hoạch tổng thể các hạng mục công
trình còn lại. Sau khi được sự chấp thuận của Thành phố, ngày 8 tháng Giêng năm
Kỷ Sửu (2009) nhà chùa đã chính thức tổ chức khởi công trùng tu, tôn tạo tổng
thể các công trình thuộc quần thể di tích. Đến tháng 11 năm 2009 đã cơ bản hoàn
tất và đưa vào sử dụng phục vụ nhân dân đón tết Canh Dần (2010). Hướng về Đại lễ kỷ niệm
1000 năm Thăng Long – Hà Nội (1010-2010) và 1000 năm chùa Hưng Long (1011-2011)
với sự phát tâm công đức của tăng ni, phật tử xa gần cùng với sự hỗ trợ của các
cấp chính quyền địa phương, các hạng mục công trình của chùa Hưng Long đến nay
đã cơ bản hoàn tất, trang nghiêm tố hảo, đáp ứng sự mong đợi của tín đồ và nhân
dân địa phương, thông qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và lịch
sử văn hóa địa phương. Chia tay chúng tôi, Đại
đức Thích Minh Tiến chắp tay từ biệt, và như chợt nghĩ ra điều gì, thầy chậm
rãi tâm sự: “Phật giáo ở Việt * Theo Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội, 2001. Bài và ảnh: Khúc Hồng Thiện Sinh viên Khoa STLLPBVH Lượt xem: 1999 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|