(ĐHVH) - Định hướng phát triển trong một giai đoạn nhất định
cho một tổ chức là công việc nghiêm túc, rất đáng trân trọng. Đối với một khoa
/ ngành đào tạo trong trường đại học, sau một thời gian hình thành và phát triển,
nay không chỉ xuất phát từ nhu cầu “tự làm mới mình” mà còn từ “sức ép” của thực tế cuộc sống thì đặt vấn đề định
hướng phát triển khoa là việc làm phù hợp. Từng đơn vị thành viên của nhà trường
“cựa mình” định hướng phát triển sẽ thúc đẩy chiến lược phát triển nhà trường và
việc hình thành chiến lược phát triển nhà trường đến lượt mình lại góp phần tăng
trưởng đúng hướng đã định để phát triển mỗi đơn vị thành viên.

Nằm trong chương trình xây dựng Chiến lược phát triển nhà
trường giai đoạn 2011 – 2020, trong thời gian vừa qua một số khoa đã tổ chức Hội
thảo định hướng phát triển khoa. Là hội thảo cho nên các ý kiến đưa ra mới chỉ
dừng lại để bàn thảo là chính. Và do đó mỗi ý kiến tiếp cận ở mỗi góc nhìn, cấp
độ khác nhau. Công việc sẽ cần phải được đẩy tới một cấp độ cao hơn nhằm đi tới
hình thành một định hướng phát triển khoa (tránh tình trạng “thảo” chỉ để mà “thảo”).
Trên tinh thần đó, xin được góp bàn đôi điều về định hướng
phát triển khoa, có liên hệ với định hướng phát triển Khoa Văn hóa Du lịch, Trường
Đại học Văn hóa Hà Nội (giai đoạn 2011-2020).
1. Chiến lược và định hướng
Vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập ở đây không phải là thuật
ngữ, câu chữ, lý luận…(mặc dầu các khái niệm này ngày nay khá thời thượng và thời
sự) mà là câu chuyện thực tiễn. Ta thấy: cấp trường thì đặt vấn đề xây dựng chiến
lược phát triển nhà trường, cấp khoa lại đặt vấn đề định hướng phát triển khoa.
Phải chăng cấp cao thì chiến lược, cấp thấp thì định hướng ? Phép cộng các định
hướng thì thành chiến lược ? Rõ ràng, trước hết, trong nhận thức cần phải làm tường
minh các khái niệm có tính cốt lõi này.
Nếu một vận động viên chạy marathon không lường trước được
chặng đường đua của mình và thế là sức chạy chỉ được 5.000m, lại tham gia cuộc đua
10.000m, dốc toàn bộ sức lực cho 2.000m đầu tiên rồi sau đó lê chân không nổi… Để
tồn tại và phát triển, một tổ chức cần xây dựng cho mình một chiến lược. Điều đó
có thể nhận thấy rõ nhất ở các doanh nghiệp. Thực tế đã chứng minh: nếu không xác
định được một chiến lược phát triển đúng, doanh nghiệp rất có thể tự mình lao vào
những cạm bẫy không thể rút ra được, dẫn đến tình hình kinh doanh sa sút, thậm
chí đi đến phá sản. Doanh nghiệp có thể đặt mục tiêu và quyết định đầu tư vào một
lĩnh vực mới với hy vọng phát triển, nhưng do không đánh giá được hết đối thủ cạnh
tranh, tiềm lực của mình… mà có thể dẫn đến thua lỗ. Nguyên nhân thất bại có thể
rất nhiều; có thể rõ ràng hoặc có thể tiềm ẩn. Nhưng chắc chắn có một nguyên nhân
cơ bản: doanh nghiệp đã không có một chiến lược phát triển đúng. Do đó, xây dựng
chiến lược phát triển đúng có vai trò quan trọng trong tổ chức, doanh nghiệp.
Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng
mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội
và thách thức từ bên ngoài. Như vậy, trước hết, chiến lược liên quan tới các mục tiêu của tổ chức. Thứ đến, chiến lược
của tổ chức bao gồm không chỉ những gì tổ chức muốn thực hiện, mà còn cách thức
thực hiện những việc đó là một loạt các quyết định và hành động có liên quan chặt
chẽ với nhau và lựa chọn phương pháp phối hợp những quyết định và hành động đó.
Chiến lược của tổ chức phải khai thác được những điểm mạnh cơ bản của mình (các
nguồn lực và năng lực) và phải tính đến những cơ hội và thách thức của môi trường.
Giáo sư nổi tiếng về chiến lược kinh doanh của trường Đại học
Harvad danh tiếng, Michael L.
Porterr, năm 1996, đã phát biểu quan niệm của mình về chiến lược qua bài báo “Chiến
lược là gì ? ” như sau:
Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị
thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt.
Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi
trong cạnh tranh.
Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công
ty.
Như vậy,
chiến lược là một lĩnh vực rất đa dạng. Với mục đích hệ thống hóa, trên quan điểm
hoạt động kinh doanh, người ta thường xem xét chiến lược trên những góc độ sau:
Chiến lược không phải là khuôn mẫu bất di bất dịch, theo thời
gian những thách thức mới hình thành, hoặc do môi trường kinh doanh thay đổi, công
ty phải điều chỉnh chiến lược để đối phó và thích hợp. Một khi đã quyết định,
chiến lược cần được lãnh đạo công ty triển khai một cách nhất quán, làm đúng việc
cần làm một cách đúng đắn để đảm bảo chiến lược được triển khai mang lại hiệu
quả.
Theo truyền thống các doanh nghiệp được hình thành với một
hoặc một số sản phẩm, doanh nghiệp ấy đối phó với đối thủ cạnh tranh, đối phó với
yêu cầu của khách hàng, đối phó với những thay đổi trong môi trường kinh doanh
bằng cách điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ, kể cả chính sách và họ xoay xở để tồn tại
trên thị trường.
Ngày nay, để tăng cường kiểm soát, hạn chế rủi ro, để có thể đo lường hiệu quả
kinh doanh của từng ngành hàng, từng thị trường, hoặc để có thể huy động thêm vốn
từ các tổ chức tín dụng và cá nhân, doanh nghiệp cần phải làm việc với kế hoạch.
Các công ty lớn lại càng cần có kế hoạch, không ai đi thuê một CEO - người chỉ
biết điều hành bằng cách đối phó và xoay xở. Thế giới kinh doanh ngày nay đã
chuyển từ đối phó, xoay xở sang kế hoạch. Mọi thứ đều cần phải được tính toán,
cân nhắc và được thể hiện qua bảng kế hoạch. Phương pháp OSTI đã trở nên khá quen thuộc đối với những người thường xuyên làm
việc bằng kế hoạch. Phương pháp OSTI chính là:
O: Objective
- Mục tiêu. Điểm đến của tổ chức.
S: Strategy - Chiến lược. Phương cách mà tổ chức sẽ thực hiện
để đạt mục tiêu.
T: Tactics - Các chiến thuật, hoạt động cụ thể.
I: Implementation - Kế hoạch triển khai.
Tất cả
những luận giải trên đây nhằm chứng tỏ điều gì nếu không phải là: Chiến lược là phương cách mà một tổ chức sẽ
thực hiện để đạt được Mục tiêu, trong đó Mục tiêu chính là điểm cần đến của tổ
chức đó. Do đó: để xây dựng Chiến lược, trước hết phải xác định Mục tiêu.
Như vậy,
vấn đề còn lại cần phải làm rõ: Định hướng là gì ? “Từ điển Tiếng Việt” của hai tác giả: GS. Bùi Quang Tịnh và
Bùi Thị Tuyết Khanh, NXB Thanh Niên, 1999 ghi: “ định hướng: hướng đã định”.
Trong khi đó, cũng từ điển này, danh từ Mục tiêu được giải nghĩa: “ cái hướng để
mình đi tới, để hành động ”. Như vậy, có thể hiểu công việc định hướng phát triển xét cho cùng chính là xác định mục tiêu – điểm đến của tổ chức vậy ! Định hướng bao gồm có định hướng phát
triển dài hạn và định hướng phát triển ngắn hạn. Tương ứng có chiến lược phát
triển dài hạn và chiến lược phát triển ngắn hạn.

Bằng
những luận giải đã được trình bày, câu trả lời cho những câu hỏi được nêu ở phần
trên thiết nghĩ đã rõ ràng tựa như chân lý mà ai cũng biết: Đảng và Bác Hồ xác định
mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc và đưa dân tộc đến đích:
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – chủ nghĩa xã hội. Để
đạt được mục tiêu đó, trong từng chặng đường cách mạng, Đảng ta lại xây dựng những
chiến lược cách mạng cụ thể cho từng giai đoạn cách mạng đó.
Trong
câu chuyện đang được bàn thảo tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội cũng vậy mà thôi.
Mỗi đơn vị thành viên và nhà trường đều cần phải định hướng và xây dựng chiến lược
của mình cho giai đoạn mới của sự phát triển. Đương nhiên, mỗi cấp độ của định
hướng và chiến lược có những tầm, mức của nó và trong tổng thể chúng có mối
quan hệ hữu cơ với nhau.
2. Ai xây dựng định hướng, chiến lược ?
Đặt câu hỏi: ai xây dựng định hướng, chiến lược thoáng nghe
có vẻ như không được tế nhị lắm. Nhưng xin hãy bình tâm để suy xét lại vì một lẽ
thường tình: nếu không có tác giả lấy đâu ra tác phẩm. Định hướng, chiến lược là
sản phẩm của tư duy con người. Vấn đề còn lại: con người đó là ai ?
Theo tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi
trong bài “Tái cấu trúc tiến trình xây dựng chính sách ” đăng trên Tuanvietnam.net:
“Trong hội thảo đi tìm mô hình tăng trưởng cho Việt
Nam do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ngày 23/6/2010, GS. Kenichi Ohno phân chia 5
đẳng cấp quốc gia như sau:
- Đẳng cấp hạng 5, thấp
nhất: nông nghiệp tự cung tự cấp, phụ thuộc vào viện trợ. Đây là đẳng cấp của
Việt Nam năm 1986, năm Đổi mới.
- Đẳng cấp hạng 4: sản
xuất giản đơn: Nuôi tôm, bóc vỏ, xuất khẩu. Nhập nguyên liệu dệt, sản xuất vải,
may áo, đem bán. Khai thác tài nguyên, sơ chế, bán cho Trung Quốc... Đẳng cấp của
Việt Nam hiện nay.
- Đẳng cấp hạng 3: có các
ngành công nghiệp phụ trợ, các ngành này được nuôi dưỡng bởi các công ty đầu tư
nước ngoài. Đây là trình độ hiện nay của Thái Lan, Malaysia, một phần lực lượng
kinh tế của Trung Quốc.
- Đẳng cấp hạng 2: Làm
chủ công nghệ, quản lý, sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Đây là đẳng cấp của Hàn
Quốc, Đài Loan, và một số thành phố phía Đông của Trung Quốc.
- Đẳng cấp hạng nhất: Sáng
tạo (trong đó có cải tiến) trong sản xuất như là kẻ dẫn đầu. Đây là đẳng cấp của
Mỹ, Nhật, EU.”
Tác giả Nguyễn Lương Hải
Khôi nhận định: “Tái cấu trúc tiến trình ra quyết định chính là cơ sở đầu tiên để
tái cấu tái trúc hệ hình nền kinh tế. Bởi vì, mỗi một kiểu xây dựng chính sách
ra đời tương tứng với hệ hình kinh tế của nó. Kiểu ra quyết sách dễ dàng theo lề
thói quan liêu ứng với đẳng cấp kinh tế hạng 5 và hạng 4. Nếu chỉ bằng lòng với
việc "nuôi tôm, bóc vỏ, đem bán" thì cũng không cần lắm đến tính dân
chủ của tiến trình ra quyết định. Nhưng, một nền kinh tế dựa trên sức sáng tạo
thì phải có một quy trình ra quyết định tương ứng với nó. Dùng mô hình ra quyết
định của nền kinh tế đẳng cấp hạng 4 thì không thể xây dựng được những chính sách
có khả năng đi tới nền kinh tế hạng nhất”.
Trở lại với câu chuyện đang
bàn của chúng ta, chúng tôi thiết nghĩ: cần lắm đến tính dân chủ của tiến trình
xây dựng và đi đến quyết định về định hướng và chiến lược phát triển. Chúng ta
không thể trông chờ vào một “khoảnh khắc thần kỳ Eureka về định hướng và chiến
lược”. Việc các đơn vị tổ chức hội thảo chính là mở đầu của tiến trình đó. Tuy
nhiên, các hội thảo thường xẩy ra một trong hai xu hướng: hoặc dễ sa đà vào các
cuộc “đối đầu” để bảo vệ ý tưởng và vị thế cá nhân rồi cuối cùng chẳng đi đến đâu;
hoặc mỗi người mỗi ý kiến, cũng chẳng tranh luận gì và rồi hội thảo cũng chẳng đi
đến đâu cả.
Trong cả hai trường hợp
trên đều có trách nhiệm của người đứng đầu hội thảo. Theo chúng tôi, thay vì để
các diễn giả đến hội thảo để nói về những gì họ cho là đúng thì hãy yêu cầu họ
làm rõ điều gì sẽ thật đúng với những ý kiến được đưa ra để có một sự lựa chọn
tuyệt vời nhất. Điều thần kỳ sẽ đến là: các quan điểm mâu thuẫn nhau lại hỗ trợ
cho nhau để có thể hiểu sâu hơn sự hợp lý của các ý tưởng. Vì mọi ý kiến đưa ra
sẽ gặp nhau ở một đích đến là: điều gì sẽ phải là đúng ? Theo cách này, điều gì
phải đúng thay thế những định kiến bằng sự khám phá. Mà như chúng ta biết định
kiến giết chết các khả năng và sự khám phá phát hiện ra các khả năng. Loại bỏ định
kiến, tìm kiếm khám phá lại chính là con đường ngắn nhất để đi đến sự đồng thuận.
Và khi đạt được sự đồng thuận thì nhiệm vụ còn lại của người lãnh đạo là ấn nút
quyết định.
Như vậy, câu trả lời người
xây dựng định hướng, chiến lược phát triển là anh, tôi, chị ấy – tất cả chúng
ta sẽ đều xây dựng “từ dưới lên”, chúng ta vừa là người “viết” định hướng, chiến
lược vừa là những “think tank(s)” – thẩm định, phản biện để sau cùng lãnh đạo
quyết định. Nhưng, tất cả đều làm thì hoặc có thể trong thực tế chẳng ai làm,
hoặc mỗi người làm một phách ngược nhau. Vì vậy, công việc này phải được tiến hành
tựa như một dàn nhạc, mỗi nhạc công, mỗi bè đều cùng làm trên một bản tổng phổ
và dưới cây gậy của người chỉ huy.
Nếu được như vậy thì dù có lâu bao nhiêu đi nữa cuối cùng cũng đến đẳng
cấp quốc gia (hoặc trường) hạng nhất theo sự phân chia của GS. Kenichi Ohno được
dẫn ở đầu phần này. Và như vậy, trong trường hợp này ta gặp gỡ một nguyên lý của
chủ nghĩa duy vật lịch sử đại ý: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, lãnh tụ
là người tổ chức quần chúng và có vai trò nổi bật trong những bước ngoặt của lịch
sử.
3. Chúng ta xuất phát từ đâu và sẽ là định hướng, chiến lược nào ?
Bản chất của định hướng / mục tiêu mà tổ chức đặt ra là sự thể hiện khát
vọng tổ chức đó. Mà khát vọng thường
chứa đựng yếu tố lãng mạn.
Ngược
lại, bản chất của chiến lược là dựa trên môi trường hoạt động của tổ chức. Do vậy
để đi đến sự cân nhắc, chọn lựa một chiến lược, người ta cần nghiên cứu môi trường
hoạt động của tổ chức.
Các công
cụ phân tích được dùng để thu thập thông tin về môi trường hoạt động, năng lực
và vị trí của tổ chức, rồi phân tích để xác định những yếu tố đầu vào quan trọng
làm cơ sở thiết kế một chiến lược thích hợp.
Sự gặp
gỡ giữa mục tiêu và chiến lược không chỉ là ánh sáng của trí tuệ mà còn là nghệ
thuật của con tim.
Khi xét trong hoạt động kinh doanh, câu hỏi đặt ra là: lí do vì sao một
số công ty thành công hơn những công ty khác trong suốt một thời gian dài ? Thật
ra, con đường đi đến thành công của các công ty là khác nhau. Microsoft vượt lên
thống trị thị trường thế giới bằng cách thiết lập một nền tảng chuẩn của ngành
(Windows, Microsoft Office) và liên kết với những công ty khác kinh doanh sản
phẩm liên quan. Dell qua mặt IBM, trong khi Walmart trở thành số một nhờ vào hiệu
quả hoạt động tạo ra lợi thế về giá thành thấp.
Thiết
lập và làm chủ nền tảng chuẩn, liên kết dọc / ngang và giá thành thấp là những
lợi thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị ưu việt cho khách hàng và
mang lại hiệu quả kinh doanh cao.
Microsoft,
Dell, IBM, Walmart… xuất phát từ đâu ? Người viết bài này không có điều kiện để
trả lời đầy đủ, chính xác câu hỏi này. Nhưng chắc chắn các công ty đó không xuất
thân từ quốc gia có đẳng cấp hạng 4 hoặc 5 theo cách chia của GS. Kenichi Ohno
(!).
Trở lại,
chúng ta không phải là các doanh nghiệp mà là các khoa chuyên ngành của Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội, chúng ta đang ở
đâu sau nửa thế kỷ xây dựng và phát triển ? Trả lời câu hỏi này quả là không đơn
giản nếu chúng ta có ý định thật nghiêm túc trong việc xác định mục tiêu và xây
dựng chiến lược phát triển cho giai đoạn tiếp theo. Riêng việc trả lời câu hỏi
này đã là cả một công trình nghiên cứu khoa học. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn
mạnh: để xác định được định hướng và chiến lược phát triển đúng cần bắt đầu từ
câu hỏi: chúng ta đang ở đâu ? Dù có lãng mạn đến mấy đi nữa, trí tưởng tượng của
chúng ta cũng không thể vượt ra ngoài đẳng cấp quốc gia hạng 4 được. Nghĩa là vừa
không xa rời chỗ ta đang đứng, lại vừa không đốt cháy giai đoạn. Vì như vậy là
duy ý chí. Nhưng chúng ta lại muốn vươn đến quốc gia hạng nhất. Do đó, chúng ta
sẽ phải giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng và hiện thực.
Xin lấy
trường hợp Khoa Văn hóa Du lịch là một trong những khoa trẻ tuổi của nhà trường
để xét bàn. Từ năm 1993 đến 2000 là chuyên ngành Văn hóa Du lịch thuộc Khoa Bảo
tàng. Từ năm 2000 đến nay Văn hóa Du lịch là Khoa trực thuộc nhà trường.
Đến với
Hội thảo định hướng phát triển Khoa Văn hóa Du lịch có ý kiến đề xuất một trong
những mục tiêu, tầm nhìn tới 2020 của Khoa là: “…với lộ trình phù hợp, xây dựng
Khoa trở thành một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học về Du lịch, trở thành
trung tâm về khoa học Văn hóa Du lịch ở Việt Nam. Xúc tiến xây dựng chương trình
và thủ tục pháp lý…để khi được phép sẽ đào tạo Sau đại học về Du lịch”…. “cần xây
dựng các chuyên ngành đào tạo vốn là thế mạnh truyền thống của Khoa Văn hóa Du
lịch, đó là các chuyên ngành: Văn hóa Du lịch; Lữ hành – Hướng dẫn du lịch; Quản
lý du lịch; Tổ chức sự kiện văn hóa – du lịch”.
Như
phần trên đã trình bày, trên tinh thần trao đổi để tìm “điều gì sẽ phải đúng”
xin góp bàn với ý kiến vừa được trích dẫn.
Trên
thực tế, điểm xuất phát năm 1993 của Khoa Văn hóa Du lịch ngày nay là từ một
chuyên ngành nằm trong một ngành đào tạo của trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Điều
đó là hợp lý vì Bộ Giáo dục và Đào tạo không quản lý các chuyên ngành mà phân cấp
cho các trường. Vào thời điểm đó, ở nước ta, Văn hóa Du lịch là chuyên ngành được
đào tạo duy nhất tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Ngày nay, Văn hóa Du lịch đã
được đào tạo ở nhiều trường, và trong tiềm thức được mặc nhiên hiểu là một ngành
đào tạo. Nhưng trong hệ thống mã ngành do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý không
có mã ngành này. Còn trớ trêu hơn, ngay cả Du lịch cũng không có mã ngành đào tạo
mà được “cưỡng hôn” trong mã ngành Việt Nam học ! Cũng dễ hiểu thôi vì ngay
trong “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010 ” được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 307 / TTg ngày 24/5/1995 người
ta cũng không thấy có đoạn nào nói đến đào tạo nguồn nhân lực du lịch. Trong lúc
đó, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ghi rõ: “ Phát triển du lịch thực
sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”.

Từ thực
trạng này, đối chiếu với mục tiêu đặt ra cho 10 năm tới được trích dẫn ở trên rõ
ràng là có vấn đề. Về pháp lý, liệu có thể xây dựng Văn hóa Du lịch thành một
ngành đào tạo độc lập với các chuyên ngành khác nhau (trong lúc ngay cả mã ngành
Du lịch cũng còn chưa có), và do đó tiến tới được phép đào tạo sau đại học có khả thi ? Thế mà chúng ta đều
biết việc mở mã ngành Du lịch không hoàn toàn nằm trong tầm tay chúng ta.
Mặt
khác, về logic hình thức, Văn hóa Du lịch đang là một Khoa thuộc trường Đại học
Văn hóa Hà Nội, nếu được coi Văn hóa Du lịch là một ngành đào tạo thì ngành Văn
hóa Du lịch có các chuyên ngành: Văn hóa Du lịch, Lữ hành – Hướng dẫn du lịch….
là chưa ổn. Chẳng khác gì, khi đề tài bàn về bữa ăn trưa lại có các phần nói về
bữa ăn trưa, bữa ăn sáng, bữa ăn chiều. Như vậy, thay vì đề tài bữa ăn trưa cần phải đổi lại là bữa ăn.
Sự ra
đời chuyên ngành Văn hóa Du lịch thuộc Khoa Bảo tàng của Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội trong giai đoạn ấy thực chất là sự tiếp tục kiểu tư duy của ngành giáo dục
– đào tạo lúc đó là hình thành các trường đại học đơn ngành là chủ yếu như: trường
đại học văn hóa, trường đại học xây dựng, trường đại học giao thông, trường cao
đẳng ngân hàng v.v…Trên miền Bắc chỉ có một trường đại học một ngành như vậy.
Ngày nay thực tế đó đã bị bỏ qua, các trường đại học đang đi theo hướng đào tạo
đa ngành, nhiều trường đào tạo cùng một ngành.
Từ những
dẫn liệu và sự phân tích trên, chúng tôi muốn đi đến một đề xuất về công thức
(tức là chưa nói đến tính chất, mức độ): Thay vì xây dựng Khoa Văn hóa Du lịch…..,
ngành đào tạo Văn hóa Du lịch với các chuyên ngành …. chúng ta xây dựng Khoa
Du lịch…, ngành đào tạo Du lịch với các chuyên ngành: Văn hóa Du lịch; Lữ
hành – Hướng dẫn du lịch; Quản lý du lịch; Tổ chức sự kiện văn hóa – du lịch…
trong đó lấy chuyên ngành Văn hóa Du lịch là một trong những thế mạnh của Khoa.
Với công
thức đó ta đã mở rộng được phạm vi của chúng ta (nếu coi Văn hóa Du lịch là một
chuyên ngành của ngành Du lịch), tức là chúng ta đi từ chuyên ngành đến ngành,
đồng thời chúng ta cũng chú trọng cả chiều sâu của sự phát triển (chuyên ngành
Văn hóa Du lịch là lợi thế cạnh tranh của chúng ta). Hơn thế nữa, Du lịch là
một ngành kinh tế, hiện nay Bộ ta đang được phân công quản lý nhà nước ngành này.
Với sự phát triển hiện nay của các trường trên cả nước đang đào tạo nhân lực du
lịch, không sớm thì muộn nó phải được cấp một mã ngành đào tạo. Vì vậy trong
mục tiêu của Khoa cần phải đón đầu khả năng ấy, xu hướng đó. Tuy nhiên, ở đây
chúng tôi chưa bàn về các chuyên ngành ấy là chuyên ngành nào. Việc này cần có
sự nghiên cứu cả nội dung học thuật và đặc biệt là nhu cầu nhân lực của ngành Du
lịch. Cần phải đặc biệt lưu ý đến danh mục các chức danh của ngành, và sự thể
hiện nó trong từng vị trí làm việc của doanh nghiệp du lịch để thiết kế các
chuyên ngành cho phù hợp.
Với
sự liên hệ vừa nêu cho thấy việc xác định mục tiêu đúng là rất quan trọng. Nó
còn đặc biệt quan trọng khi từ mục tiêu mà xây dựng chiến lược, quản trị chiến
lược. Trong đó quản trị chiến lược được hiểu là một loạt các bước mà tổ chức
phải thực hiện: phân tích tình hình hiện tại; các quyết định nhằm đưa chiến
lược vào thực thi, đánh giá, điều chỉnh, thay đổi chiến lược khi cần thiết. Nó
bao gồm tất cả các chức năng cơ bản của quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm soát. Như vậy, quy trình quản trị chiến lược bao gồm cả việc xây dựng
chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược. Vậy mà chiến lược lại
bắt đầu từ xác định mục tiêu hay định hướng phát triển.
Đến
đây câu hỏi: chiến lược nào cho chúng ta được nêu làm tiêu đề phần này xin được
bỏ ngỏ. Bởi vì mỗi chủ thể “chúng ta” ấy (khoa / trường) có một mục tiêu và
chiến lược cụ thể của mình. Điều cần nói là trong thời đại ngày nay sẽ không
còn nữa cái cảnh làm hôm nào biết hôm đó, và cứ như vậy ngày qua ngày mà vẫn
tồn tại.
Người
ta đã từng thấy hiện tượng ở nước ngoài có các phố đã từng nhan nhản các cửa
hàng buôn bán nhỏ. Rối bắt đầu xuất hiện các cửa hàng lớn hơn, các siêu thị. Rồi
siêu thị ngày càng phình to. Rồi cả phố hầu như chỉ còn toàn là siêu thị, không
ai còn nhớ tới các cửa hàng nhỏ xưa nữa. Các cửa hàng là con cá nhỏ đã bị các
con cá lớn siêu thị nuốt hết. Chắc chắn trong chúng ta không ai muốn bị rơi tõm
vào lòng con cá lớn và biến vào hư vô ?
Tuy
nhiên, như một người đi học, nếu cần phải nộp bài về bố cục của một phác thảo
chiến lược phát triển tôi xin có bài đề cương dự kiến như sau:
CHIẾN LUỢC PHÁT TRIỂN……
Giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn
2030
(Đề cương dự kiến)
1. Sứ mệnh
2.
Tầm nhìn (2030)
3. Các giá trị cốt lõi
4. Cơ sở xây dựng chiến lược phát triển:
4.1 Cơ sở pháp lý
4.2 Bối cảnh phát triển
4.3 Hiện trạng phát triển của …:
4.3.1 Điểm mạnh
4.3.2 Hạn chế
4.3.3 Cơ hội
4.3.4 Thách thức
5. Mục tiêu chiến lược:
5.1 Mục tiêu tổng thể (2020)
5.2 Các mục tiêu cụ thể (2020)
6. Các giải pháp thực hiện chiến lược:
6.1 Các giải pháp về quản lý và cơ chế
6.2 Các giải pháp về nguồn nhân lực
6.3 Các giải pháp về cơ sở vật chất
6.4 Các giải pháp về hợp tác phát triển
6.5 Các giải pháp về kế hoạch và tài chính
6.6 Các giải pháp về đảm bảo chất lượng
6.7 Các giải pháp PR, tuyển sinh và cựu sinh viên
6.8 Phát triển văn hoá cộng đồng và xây dựng chiến lược thương
hiệu
Hà Nội, tháng 7 năm 2010
Thống Nhất
Admin1
Lượt xem: 5402
