Trong muôn ngàn nỗi nhớ khi xa
quê của những người con miệt đồng bằng Bắc Bộ, có nỗi nhớ dành cho cây tre,
nhất là khi “Mùa lá tre về”. “Mùa lá tre về”, hay nơi ấy là ràng rợ những kỷ
niệm ấu thơ, là những bữa cơm chan canh cua do bà nấu, là những vật dụng cái
rổ, cái rá… do ông đan… đã trở thành một phần máu thịt không thể thiếu của đời
người.
Tôi sinh ra ở một vùng trung du xa hút hắt. Tuổi thơ của
tôi gắn chặt với vùng quê cằn cỗi ấy. Nhưng đến năm lên lớp năm, sau những trận
đỏ đen ngút trời, bố tôi mang cả gia đình bỏ đi biệt xứ. Có những buổi chiều
lặng gió, đứng giữa vườn dừa bạt ngàn của vùng đông Nam Bộ, tôi ngơ ngác xăm soi
từng thân cây một mong tìm lại chút thân quen. Cây tre Bắc Bộ ám ảnh tôi suốt
cuộc đời. Những khi ấy tôi nhớ da diết cơn mưa lá tre ào ào của một vùng mờ mờ
trong kí ức. Tất cả chỉ là ảo vọng của một đứa con tha hương sống lay lắt bên
kia bờ hoài niệm mà thôi.
Những cây tre như quấn chặt với nhau đứng hiên
ngang trong gió.
Ảnh: Kim Dung
Quê tôi có nhiều loại cây lắm: Cây mít, cây trôi, cây
quéo…Mỗi độ bão tràn về, thế nào sáng ra cũng có dăm cây đổ vật xuống, chắn kín
đường làng. Tôi hỏi ông tôi: “Ông ơi! Sao chúng lại bị đổ hả ông?”. Ông bảo tôi
rằng: “Vì chúng chỉ đứng đơn độc cháu ạ!”. Tôi “À” một tiếng rõ to rồi phóng mắt
nhìn ra xa, rặng tre ngoài kia, với những cây tre như quấn chặt lấy nhau
vẫn đứng hiên ngang trong gió. Cây tre quê tôi cao vút, được ghép lại bởi hàng
chục đốt xanh ngắt mỡ màng nhưng cũng có khi vàng óng ả.
Lũ trẻ chúng tôi phân loại từng rặng tre: Búi tre ông Nghi,
búi tre ông Đản, tre ngộc, tre hóp…Búi tre ông Nghi gày xơ xác. Nó thấp lè tè
nhưng chắc đến đanh lại. Cứ mỗi mùa quả đay đến vụ, quả xoan ương sắp chín hay thậm
chí sang cả mùa cơm nguội, trưa nào lũ trẻ chúng tôi cũng rình mò, lén lút đâu
đó quanh khóm tre ít ỏi. Chỉ lơ một cái, y rằng một cây cũng bị chặt phéng ngay
đem về chia nhau làm súng hóp. Thằng nào chẳng may bị bắt, mặt nó xanh lét đến
thảm hại bởi ông Nghi, chủ nhà, đã từng nổi tiếng vì thành tích chặt đứt đuôi
con bò nhà thằng Tưởng chỉ vì dại dột liếm vài cái lá tre.
Búi tre ngộc được biết đến nhiều hơn cả. Tôi còn đặt cho nó
cái tên tre tây. Vì nghe bà kể bọn tây hồi xưa cũng to như tre ngộc vậy. Muốn
nhìn thấy ngọn, tôi phải khum khum hai tay, nheo mắt lại. Trên đó chim kéo về hàng
đàn vì chẳng mấy khi có người trèo lên được. Mo tre ngộc to như cái quạt nan,
vàng xộm, đem bán cho các nhà đan nón phải đắt gấp hai tre thường. Mỗi độ thu
về, nhiều đứa có khi chỉ vì tranh nhau cái mo tre mà choảng nhau sứt đầu
mẻ trán.
Ông tôi có tài làm mọi thứ bằng tre. Khoảng tháng tư, tháng
năm hàng năm, lúc bão bắt đầu tràn về, ông ngả bớt những cây tre rìa búi sắp
đổ. Sau đó ông ngâm xuống ao đến vụ cá đầu đông. Vào những ngày giá rét, tôi
ngồi xem ông cắt khúc cây tre như cắt khúc một con lươn khổng lồ vừa kéo được
dưới ao lên. Chỉ từ vài khúc tre như vậy ông tôi đã biến hoá ra bao nhiêu thứ:
Cái rổ, cái giá, cái giần, cái sàng… Ông tự làm cho mình một cái điếu cày rất
đẹp, châm lửa hút thuốc bằng đóm tự chẻ luôn.

Tôi nhớ quá những khóm tre ông trồng...
Ảnh: Kim Dung
Những ngày “xẻ thịt” cây tre, ông không bao giờ quên đan
cho tôi cái bu gà chọi và cái giậm treo lên gác bếp chờ mùa lụt sang năm. Ở một
nơi xa lắm, nơi cây tre chỉ có trong từ điển, tôi nhớ quá những khóm tre cùng ông
trồng những ngày cuối tôi sắp phải ra đi. Không biết ông tôi giờ ra sao chứ gốc
tre giờ chắc thành búi cả rồi.
Mùa lá tre về, đâu đâu cũng giăng mắc bao chiếc thuyền cong
cong, xoay trong gió. Lá tre rụng ào ào như trút, rụng triền miên. Cây tre trút
đi chiếc áo để mùa đông đứng xo ro chịu rét. Nhưng khi ấy là lúc bà tôi vào
mùa. Vẫn chiếc áo nâu sờn khâu bao lần chỉ bên ngoài và bên trong là chiếc áo
cánh gián toả ra mùi trầu hăng hăng quen thuộc. Một tay cầm chổi rễ cùn, tay
kia bà kéo lê chiếc bao tải cũ mèm len lỏi khắp các búi tre. Bà luồn bàn tay
nâu xạm, đầy những đường gân vơ từng chiếc lá.
Tôi chạy theo bà, thi thoảng cũng bẻ đuợc vài cành củi rồi
lại biến ngay để mặc bà nhặt mùa thu mang về. Tôi nhớ nhất cái dáng ngồi đun
bếp của bà. Bếp thì nhỏ lại ọp ẹp. Mùa hè khói quyện đặc, cay xè mắt. Thế mà bà
vẫn ngồi còng gập trên chiếc ghế con đủn đều đặn từng nắm lá tre. Mùa đông bà
dậy từ tinh mơ bắc bếp nhẩn nha luộc cho tôi nồi khoai củ mật.
Nhớ ngày ấy, mỗi sáng vùng dậy, tôi không bao giờ chịu mặc
quần áo rét ngay mà đánh chiếc quần cộc lao vù qua sân xuống bếp bó gối tựa
lưng vào người bà. Ngồi buồn, tôi kiếm cành rào nhỏ phá bĩnh bếp lửa, lúc thì
tranh với bà đủn lá tre, lúc thì lấy tàn than giết lũ kiến xung quanh. Bà giơ cao
cái que cời cháy nham nhở dứ dứ, tôi chạy biến. Nhớ về tuổi thơ tôi nhớ day dứt
nồi khoai củ mật và cái que cời cháy nham nhở ngày nào.
Ngày tôi đi, lưng bà còng hẳn rồi. Tay
bà thì run run ghê lắm. Ấy thế mà bà băm rau lang nấu cám cho lợn lại chẳng bao
giờ bị đứt tay như tôi. Bà bảo tôi: “Nó có cữ rồi”. Tôi gật gật dẫu chẳng biết
“cữ” là gì cả. Nhưng bữa cơm bà chan canh khó thực. Nước cứ sóng sánh trực trào
ra bên ngoài. Tôi reo lên: “A! Bà chan canh không có cữ nhớ”. Bà bật cười móm mém:
“Cha bố anh!”. Bao giờ tôi cũng xí phần chan canh cho bà. Thế mà tôi lại phải
đi…
Quê tôi ngày ấy tre nhiều vô kể. Tre mọc hàng hàng dãy dãy
thành bờ thành bụi che kín khu vườn nhà. Tre mọc chen chúc nhau ở bờ ao hay
thậm chí nó còn xô lấn ra mãi phía bờ máng, bờ dộc. Những ngày hanh hao nắng,
lá tre rụng tơi bời, ấy là khi cái rét bị xô dạt đi đâu mất. Bà xăng xái moi
trong khe chạn bát cái túi nhỏ buộc túm một đầu. Bà bảo “Hôm nay bà cháu mình
đi bắt cua”, thế là tôi nhảy tâng tâng, con cón chạy theo mà ra mé đình làng.

Hoa cỏ may xơ xác
Ảnh: Kim Dung
Mùa đông cua đóng mà nằm im thít trong hang. Dọc con máng
lệt sệt bùn, những hang cua được bịt kín bằng lớp đất mới vàng tươi chạy một
hàng dài. Bà vén ống quần, nhón chân, lội lụp thụp dưới bùn. Tôi hết chạy lăng
quăng lại quì gối bên sườn máng xem bà cẩn trọng bóc lớp mà cua, thọc tay vào bên
trong. Hoa cỏ may xơ xác ghim kín ống quần tôi. Bàn tay xương xương của bà
thoăn thoắt, miệng bỏm bẻm nhai trầu, bà nhẩn nha kể chuyện cho tôi nghe. Nào
là chuyện bãi Gia có ma. Bà bảo ngày xưa nhà ông Thắm ở đó, đêm đến là bị dựng
ngược giường dậy sau đành phải bỏ vào ở trong làng. Hay chuyện sân đình thường
có ma chơi xanh lét chân dài như cái nạo cỏ…
Những câu chuyện vu vơ như thế mà chả bao giờ tôi quên
được. Đi hết con máng, cái túi vải tóm một đầu của bà cũng đầy đến ngọn. Bà
thản nhiên xoả xoả đôi bàn tay kín vết cua cắp tứa máu xuống vũng nước sòng
lạnh ngắt. Tôi ái ngại cầm bàn tay bà thổi xuỳ xuỳ. Bà cười lộ hàm răng đen
láy: “Bà không đau đâu, trưa nay lại có canh cua cho thằng cháu bà rồi!”. Những
bữa cơm chiều xa xứ, có cơm dẻo canh ngọt rồi sau này cả “sơn hào hải vị”,
tôi vẫn thèm quá một thìa gạch cua bà run rẩy múc vào bát cho tôi. Có khi đang
bữa cơm, tôi bỗng lan man nghĩ đến cái thìa gỗ múc canh xém cạnh. Làm sao con
có thể chịu rét thay bà khi bao mùa đi qua mà nơi này chỉ có hai mùa mưa nắng?
Hôm đó ông bà đưa tiễn chúng tôi ra mãi tận đầu làng. Ông
thì yên lặng nhưng bà thỉnh thoảng lại lau mắt bằng chiếc khăn mùi xoa mà lần
nào đi chùa về bà cũng gói trong đó không quả chuối thì cái oản cúng cho tôi.
Chiếc xe xa dần, xa dần. Tay bà run rẩy trong
hơi lạnh. Lá tre đổ ào ào như bão. Tôi gào lên, nhoài về phía sau xe. Nhưng
không được, bàn tay của bố lôi bật tôi lại. Và đó cũng là lần đầu tiên tôi
phóng ánh mắt dỗi hờn, trách móc vào khuôn mặt bợt bạt của bố.
Ai cũng tưởng tre không có hoa. Nhưng không phải, tre cũng
có hoa như bao loài cây khác. Hoa nó vàng li ti, cằn cỗi như chính cái tên nó
phải mang vậy. Nếu muốn nhìn thấy hoa tre, chắc con người ta phải sống đến hàng
thế kỉ.
Ở quê tôi mùa này chắc lá tre đã bắt đầu rụng. Hôm trước,
tôi có đọc trên báo thấy mặt hàng mây, tre đan xuất khẩu của Việt Nam được
giá. Vui thì vui thật nhưng chẳng biết lũ trẻ quê tôi có còn chỗ để móc mo tre
nữa hay không? Chỉ biết cách đây vài tháng bất chợt gặp thằng bạn ấu thơ phiêu dạt
vào đây có kể quê mình giờ lấy đâu còn lá tre. Ông bà nội tôi thì đã mất cả
rồi. Thế mà chẳng hiểu sao tôi vẫn day dứt về một mùa lá tre. Có lẽ tôi phải về
thôi. Biết đâu búi tre ông trồng cho tôi chả còn…
- Nguyễn
Anh Thế (Theo VNN)