Hướng dẫn thực hiện Quy chế đào tào đại học và cao đẳng hệ chính quy
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUY CHẾ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG HỆ
CHÍNH QUY (Ban hành
kèm theo Quyết định số: 158 /QĐ-ĐHVH ngày 17
tháng 3 năm 2009 của Hiệu trưởng Trường
Đại học Văn hóa Hà Nội)
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối
tượng áp dụng 1. Hướng dẫn Quy
chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy về tổ chức đào tạo;
kiểm tra và thi học phần; thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp. 2. Hướng dẫn Quy
chế này áp dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở các trình độ
đại học và cao đẳng trong Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, thực hiện theo học chế
mềm dẻo ( kết hợp niên chế với học phần ). Điều 2. Chương
trình giáo dục đại học 1. Các chương trình đào tạo của trường được xây
dựng trên cơ sở các chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành. Mỗi chương trình tương ứng với một ngành đào tạo ở một trình độ đào tạo
cụ thể. 2. Chương trình đào tạo bậc đại học được cấu trúc
từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương (90 đơn vị học
trình, tương đương 1350 tiết) và giáo dục chuyên nghiệp (120 đơn vị học trình,
tương đương 1800 tiết). Trong giáo dục chuyên nghiệp có kiến thức cơ sở của
ngành, kiến thức ngành và có thể có kiến
thức chuyên ngành. 3. Chương trình đào tạo chuyên ngành là từ
chương trình ngành được tách ra, trong đó phần chuyên ngành chiếm không dưới 50
% số đơn vị học trình của khối giáo dục chuyên nghiệp. Điều 3. Học phần
và đơn vị học trình 1. Học phần là
khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích luỹ
trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 5 đơn vị học
trình, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Từng học
phần được ký hiệu bằng một mã riêng do trường quy định. 2. Có hai loại học
phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn. a) Học phần bắt
buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương
trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy. b) Học phần tự
chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết nhưng sinh viên
được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc
đi sâu vào một chuyên ngành nhất định. 3. Đơn vị học
trình được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một đơn vị học
trình được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; bằng 30 tiết thực hành hay thảo
luận; bằng 45 giờ thực tập tại cơ sở; hoặc làm tiểu luận, khoá luận tốt nghiệp. Đối với những học
phần lý thuyết hoặc thực hành, để tiếp thu được một đơn vị học trình trên lớp, sinh
viên phải dành ít nhất 15 giờ chuẩn bị cá nhân. 4. Một tiết học được tính bằng 45
phút. 5. Mỗi học phần
được dành tốt đa 80 % số tiết giảng dạy trên lớp (kể cả lý thuyết và thực
hành), 20 % số tiết còn lại sinh viên tự thực hiện các chương trình học tập do
giảng viên yêu cầu. Chương II TỔ CHỨC ĐÀO TẠO Điều 4. Thời gian
và kế hoạch đào tạo 1. Trường tổ chức
đào tạo theo khoá học và năm học. a) Khoá học là
thời gian để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tùy thuộc chương
trình, khóa học được quy định như sau: - Đào tạo trình độ
cao đẳng được thực hiện 3 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học
phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; - Đào tạo trình độ
đại học được thực hiện 4 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; 1,5 năm học đối với người có bằng tốt
nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo (liên thông cao đẳng – đại học). b) Một năm học có
hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính thường có 15 tuần thực học và 3 tuần thi,
kiểm tra. Ngoài hai học kỳ chính, trường tổ chức thêm một học kỳ hè để sinh
viên có các học phần bị đánh giá không đạt ở các học kỳ chính được học lại và
để sinh viên học giỏi có điều kiện học vượt, kết thúc sớm chương trình học tập.
Mỗi học kỳ hè có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi, kiểm tra. 2. Kế hoạch đào
tạo a) Đầu khoá học,
trường thông báo công khai về nội dung và kế hoạch học tập của các chương
trình; quy chế đào tạo; nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên. b) Đầu mỗi năm
học, trường ban hành “Kế hoạch đào tạo năm học”, trong đó nêu rõ lịch trình học của từng chương trình trong
từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn, lịch kiểm tra và thi,
hình thức kiểm tra và thi các học phần. 3. Thời gian tối
đa hoàn thành chương trình bao gồm thời gian quy định cho chương trình được ghi
tại khoản 1 điều này, cộng với thời gian tối đa sinh viên được phép tạm ngừng
học quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 2 Điều 7 của bản hướng dẫn này. Điều 5. Sắp xếp
sinh viên vào học các chương trình (hoặc ngành đào tạo) Trường xác định điểm trúng tuyển vào trường
theo nguyện vọng ngành đào tạo của thí sinh trong kỳ thi tuyển sinh, sắp xếp thí sinh
trúng tuyển vào học ngành đó ngay từ đầu khóa. Điều 6. Điều kiện
để sinh viên được học tiếp, được nghỉ học tạm thời, phải tạm ngừng học hoặc bị
buộc thôi học Vào năm học, nhà
trường căn cứ vào số học phần đã học, điểm trung bình chung học tập của năm học
đã qua (tính cả học kỳ hè) và điểm trung bình chung tất cả các học phần tính từ
đầu khoá học để xét việc học tiếp, nghỉ học tạm thời, tạm ngừng học hoặc bị
buộc thôi học của sinh viên. 1. Sinh viên được
học tiếp lên năm học sau nếu có đủ
2 điều kiện dưới đây: a) Có điểm trung
bình chung học tập của năm học từ 5,0 trở lên; b) Có khối lượng
các học phần bị điểm dưới 5,0 tính từ đầu khoá học không quá 25 đơn vị học
trình; Tại các học kỳ kế
sau, sinh viên phải chủ động đăng ký học lại (qua Phòng Đào tạo) những học phần
bị điểm dưới 5,0. 2. Sinh viên được
quyền gửi đơn tới Hiệu trưởng (qua Khoa và Phòng Đào tạo) xin nghỉ học tạm thời và bảo
lưu kết quả đã học nếu rơi vào 1 trong 3 trường hợp sau đây: a) Được động viên vào lực lượng vũ trang; b) Bị ốm hoặc tai nạn buộc phải điều trị
thời gian dài, có giấy xác nhận của cơ quan y tế; c) Vì nhu cầu cá nhân (có sự xác nhận của gia đình).
Trường hợp này, sinh viên phải đã học ít nhất một học kỳ ở trường và phải đạt
điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học không dưới 5,0. Thời
gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học
chính thức quy định tại khoản 3 Điều 4 của bản hướng dẫn này. Sinh viên nghỉ học
tạm thời khi muốn trở lại học tiếp tại trường phải gửi đơn tới Hiệu trưởng (qua
Khoa, Phòng Đào tạo) ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới hay năm học
mới. 3. Sinh viên không
thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 4 của Điều này phải tạm
ngừng học để có thời gian củng cố kiến thức, cải thiện kết quả học tập. a) Sinh viên không
thuộc đối tượng ưu tiên trong đào tạo phải tạm ngừng học tối đa không quá 01
năm cho toàn khóa học đối với các chương trình cao đẳng; không quá 02 năm cho
toàn khoá học đối với các chương trình đại học. b) Trong thời gian
tạm ngừng học, sinh viên phải đăng ký
học lại các học phần chưa đạt. Hiệu trưởng xem xét bố trí cho các sinh viên
này được học một số học phần của năm học tiếp theo nếu có đề nghị (qua Phòng
Đào tạo). Đối với sinh viên không thuộc đối tượng ưu tiên trong đào tạo, trong thời gian tạm ngừng học không
phải đóng học phí theo học kỳ / năm học mà chỉ đóng kinh phí các môn đăng ký học trong học kỳ/ năm học đó (nếu
có). Mức đóng theo quy định hiện hành của nhà trường. Hết thời gian tạm ngừng học, sinh viên trở
lại học tập và đóng học phí bình thường.
4. Sinh viên bị buộc
thôi học nếu rơi vào một
trong 4 trường hợp sau: a) Có điểm trung
bình chung học tập của năm học dưới 3,5; b) Có điểm trung
bình chung tất cả các học phần tính từ đầu khoá học dưới 4,0 sau hai năm học;
dưới 4,5 sau 3 năm học và dưới 4,8 sau từ 4 năm học trở lên. c) Đã hết thời
gian tối đa được phép học tại trường theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của bản
hướng dẫn này; d) Bị kỷ luật lần
thứ hai (cả hai lần đều từ mức cảnh cáo trở lên) vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ
người thi hộ; Chậm nhất là một
tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, sinh viên phải trả lại Thẻ
sinh viên, nhà trường thông báo bằng văn bản trả về địa phương nơi sinh viên có
hộ khẩu thường trú. Trường hợp tại trường có các chương trình cùng ngành ở các
trình độ thấp hơn thì những sinh viên thuộc diện quy định tại các điểm a, b và
c khoản này được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đó và được bảo lưu
một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi học ở các chương trình mới. Hiệu
trưởng quyết định bảo lưu kết quả học tập cho từng trường hợp cụ thể. Điều 7. Ưu tiên
trong đào tạo 1. Các đối tượng được
ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy
được hưởng chế độ ưu tiên trong đào tạo. 2. Sinh viên đại
học và cao đẳng thuộc các đối tượng ưu tiên phải tạm ngừng học để củng cố kiến
thức, cải thiện kết quả học tập. Thời gian tạm ngừng học tối đa không quá 2 năm
cho toàn khóa học đối với các chương trình cao đẳng; không quá 3 năm cho toàn
khoá học đối với các chương trình đại học. 3. Trong thời gian
tạm ngừng học, sinh viên thuộc đối tượng ưu tiên vẫn được hưởng chế độ học bổng
ưu đãi của Nhà nước. Điều 8. Học theo
tiến độ khác với tiến độ học chung của nhà trường và học cùng lúc hai chương
trình 1. Học theo tiến độ chậm: a) Sinh viên học
theo tiến độ chậm là sinh viên có nhu cầu học chậm so với tiến độ chung của khoá
học được quyền đăng ký với Phòng Đào tạo để xin tạm rút một số học phần trong
lịch trình học quy định. b) Các quy định học theo tiến độ
chậm: - Số học phần đăng
ký tạm rút trong mỗi học kỳ có tổng khối lượng không quá 12 đơn vị học trình và
chủ yếu thuộc vào nhóm học phần không mang tính chất bắt buộc đối với ngành đào
tạo chính; - Điều kiện để
được học tiếp, ngừng học hoặc thôi học đối với các sinh viên học theo tiến độ
chậm được thực hiện theo quy định tại Điều 6 của bản hướng dẫn này; - Thời gian cho
toàn khoá học đối với các sinh viên học theo tiến độ chậm không được vượt quá
thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học theo tiến độ bình thường
quy định tại khoản 3 Điều 4 của bản hướng dẫn này; - Trừ các đối
tượng được ưu tiên theo quy định, những sinh viên học theo tiến độ chậm ở năm
học nào thì không được hưởng chính sách học bổng ở năm học đó. 2. Học theo tiến
độ nhanh: a) Sinh viên (học
theo tiến độ nhanh là sinh viên có nhu cầu học nhanh hơn so với tiến độ chung
của khoá học) đăng ký với Phòng Đào tạo để học vượt một số học phần so với lịch
trình học quy định. b) Các quy định học theo tiến độ
nhanh: - Chỉ được thực hiện đối với những
sinh viên đã học xong năm học thứ nhất; - Sinh viên không
thuộc diện tạm ngừng học và có điểm trung bình chung học tập cả năm từ 7,0 trở
lên. - Sinh viên đang
được phép học vượt, nhưng nếu có điểm trung bình chung học tập của năm học vượt
đạt dưới 6,5 thì phải dừng học vượt ở năm học tiếp theo. - Sinh viên học
vượt được rút ngắn thời gian học ở trường so với thời gian quy định cho toàn
khoá học nhưng không được quá một năm đối với trình độ đại học và không quá một
học kỳ đối với trình độ cao đẳng; 3. Học cùng lúc
hai chương trình: a) Sinh viên học
cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình
thứ hai tại trường để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng. b) Các quy định học cùng lúc hai
chương trình: - Sinh viên đã học
xong năm thư nhất, không thuộc diện tạm ngừng học và có điểm trung bình chung
học tập cả năm từ 7,0 trở lên. - Sinh viên đang
học thêm chương trình thứ hai nếu có điểm trung bình chung học tập của năm học
đó đạt dưới 7,0 thì phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở năm học tiếp
theo. - Thời gian tối đa
được phép học đối với sinh viên đăng ký học đồng thời hai chương trình là thời
gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất quy định tại khoản 3 Điều 6 của
bản hướng dẫn này. Khi học chương trình thứ hai sinh viên được bảo lưu điểm của
những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương
trình thứ nhất. - Sinh viên chỉ
được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở
chương trình thứ nhất. Sinh viên hoàn thành chương trình trước 1 năm, được thi
tốt nghiệp cùng với khóa trước; nếu hoàn thành tại thời điểm sau kỳ thi tốt
nghiệp của khóa trước thì phải đợi thi tốt nghiệp cùng với khóa của mình. - Sinh viên học chương
trình thứ 2 phải đóng học phí cho chương trình học thứ 2 (trừ các môn ở chương
trình thứ nhất được bảo lưu kết quả). - Để tạo điều kiện cho sinh viên học vượt, học
lại, trường bố trí học lệch buổi cho các khối (Ví dụ: năm thứ nhất và năm thứ
ba học chiều, năm thứ hai và năm thứ tư học sáng hoặc ngược lại). Điều 9. Chuyển
trường 1. Sinh viên được
xét chuyển đến học tiếp tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nếu có đủ 3 điều kiện sau đây: a) Trường chuyển đi
và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội có chung đề thi tuyển sinh. Điểm xét tuyển sủa
sinh viên ít nhất bằng điểm xét tuyển cùng năm tuyển sinh của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội ; b) Đang học ngành
đào tạo trùng hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo của Trường Đại học
Văn hóa Hà Nội; c) Được sự đồng ý
của Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. 2. Sinh viên không
được phép chuyển về Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nếu rơi vào 1 trong 3 trường hợp sau: a) Sinh viên đã dự
thi tuyển sinh vào Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nhưng không trúng tuyển hoặc
có điểm thi thấp hơn điểm xét tuyển của trường Đại học Văn hóa Hà Nội (trong
trường hợp chung đề thi tuyển sinh); b) Sinh viên đang
học năm thứ nhất và năm cuối khoá; c) Sinh viên đang
chịu mức kỷ luật từ cảnh cáo trở lên. 3. Thủ tục chuyển
trường: a) Sinh viên xin
chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; b) Hiệu trưởng
trường Đại học Văn hóa Hà Nội ra quyết định tiếp nhận ( ghi rõ số học phần mà
sinh viên chuyển đến phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường
xin chuyển đi và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội). Chương III KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN Điều 10. Đánh giá
học phần 1. Các học phần chỉ
có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành, điểm mỗi học phần bao gồm: - Điểm tích cực học tập (bao gồm đánh giá về số giờ dự học trên lớp
chuyên cần, nghiêm túc; tích cực tham gia thảo luận. Trong đó, dự học đủ từ 80% số tiết quy định phải học trên lớp
trở lên, riêng đối với những sinh viên được Hiệu trưởng cho phép học vượt, học
thêm ngành chuyên môn thứ hai phải dự học đủ từ 50% trở lên số tiết quy định
cho học phần đó trên lớp. Thang điểm 10, trọng số: 10% (có thể cho
điểm lẻ đến 0,25). - Điểm kiểm tra giữa học phần (thực hiện đối với tất cả các học phần từ 30 tiết trở lên): Thang
điểm 10, trọng số: 20% (có thể cho điểm lẻ đến 0,25) - Điểm thi kết thúc học phần: Thang điểm 10, trọng số: 70% (có thể cho
điểm lẻ đến 0,25) Điểm kết luận: là tổng của các điểm thành phần sau
khi đã nhân với trọng số của mỗi thành phần: tích cực học tập, kiểm tra giữa
học phần và điểm thi kết thúc học phần. Tối
đa 10 điểm ( nếu điểm kết luận có
phần thập phân: phải làm tròn số theo quy định tại Điều 13, khoản 1, trong văn bản này) Đối với một số
học phần đặc biệt, việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận
cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được
Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học
phần. Đối với các học
phần dưới 30 tiết không thực hiện kiểm tra giữa học phần. Điểm thành phần
của loại học phần này được phân bổ như sau: -
Điểm
tích cực học tập: thang điểm 10, trọng
số: 10%. -
Điểm
thi kết thúc học phần: thang điểm 10, trọng
số: 90 %. Điểm kết luận: là tổng của 2 điểm thành phần nêu trên
sau khi đã nhân với trọng số. Tối đa 10
điểm ( nếu điểm kết luận có phần thập
phân: phải làm tròn số theo quy định tại Điều 13, khoản 1, trong văn bản này). 2. Các học phần
chỉ có thực hành: sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài tập thực hành. Trung
bình cộng điểm của các bài tập thực hành sau khi được làm tròn đến phần nguyên
là điểm học phần thực hành. 3. Giảng viên
giảng dạy học phần trực tiếp ra đề kiểm tra giữa học phần và cho điểm đánh giá
bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần. (Việc
ra đề thi kết thúc học phần được thực hiện theo quy định ở Điều 12, khoản 4) Ngay sau khi hoàn thành việc giảng dạy và chấm bài
kiểm tra, giảng viên công bố trước lớp điểm tích cực học tập, điểm kiểm tra giữa
học phần (sau khi đã nhân trọng số mỗi điểm thành phần, lên bảng điểm) và
chuyển bảng điểm này về Phòng Đào tạo trước khi tổ chức thi kết thúc học phần. Điều 11. Tổ chức
kỳ thi kết thúc học phần 1. Sinh viên được dự thi kết thúc học phần khi có đủ điều kiện: Dự đủ ít nhất 80%
số tiết quy định phải học trên lớp và có điểm kiểm tra giữa học phần
đạt yêu cầu. Đối với những sinh viên không đủ điều kiện dự học trên lớp thì giảng viên quyết định sinh
viên phải học lại theo lớp riêng
hoặc khóa sau. Đối với những sinh viên không có điểm kiểm tra giữa học phần hoặc điểm kiểm tra không đạt
yêu cầu (dưới 5 điểm) thì không đủ
điều kiện dự thi đợt 1. Sinh viên phải
làm bài kiểm tra lại, nếu đạt yêu cầu thì được dự thi đợt 2, nhưng được tính là thi lần thứ nhất. Nếu bài
kiểm tra lần 2 không đạt yêu cầu thì điểm kiểm tra giữa học phần lần 2 là điểm
thành phần của điểm kết luận học phần. Đối với sinh viên lần thi kết thúc học phần (lần 1) điểm kết luận không đạt yêu cầu (dưới 5 điểm) thì được dự thi lần 2 nhưng cùng đợt với số sinh
viên thuộc diện học lại, thi lại hay cùng với khóa sau và tính điểm thi lần 2 (trong đó
các điểm thành phần: tích cực học tập và kiểm tra giữa học phần được bảo lưu). Sau khi thi lần 2 mà điểm kết luận không
đạt yêu cầu thì sinh viên phải học lại học phần đó theo lớp riêng hoặc cùng
khóa sau. Giảng viên giảng dạy học phần công bố trước lớp và gửi về Phòng Đào tạo
danh sách những sinh viên đủ hay không
đủ điều kiện dự thi hết học phần khi kết thúc giảng dạy và kiểm tra học phần
đó. 2. Cuối mỗi học
kỳ, trường tổ chức một kỳ thi chính (lần 1) và một kỳ thi phụ (lần 2) để thi
kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho sinh viên không tham dự kỳ thi chính,
không đủ điều kiện dự thi ở kỳ thi chính hoặc có điểm học phần dưới 5,0 sau kỳ
thi chính. Kỳ thi phụ được tổ chức sớm nhất là 2 tuần sau kỳ thi chính. Phòng
Đào tạo công bố lịch thi tổng thể. Trước kỳ thi chính (lần 1) 2 tuần lễ, Phòng
Đào tạo lập lịch thi và phòng thi cho toàn trường. Lịch thi được bố trí dãn
cách hợp lý để sinh viên có điều kiện ôn tập. Đối với các học phần kết thúc
giữa kỳ, Phòng Đào tạo có thể xếp lịch thi sớm hơn định kỳ chung theo đề nghị
của khoa / bộ môn trực thuộc trường. Điều 12. Ra đề
thi, hình thức thi, coi thi, chấm thi, số lần sinh viên được dự thi kết thúc
học phần 1. Nhà truờng giao
quyền cho Ban kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của sinh viên (trực thuộc
Phòng Đào tạo), gọi tắt là “Ban kiểm tra, đánh giá” tổ chức việc coi thi, chấm thi kết thúc các học phần trong toàn
trường. Các Khoa, Bộ môn trực thuộc trường cần phối hợp thực hiện. 2. Trưởng khoa /
trưởng bộ môn trực thuộc trường điều động cán bộ thuộc đơn vị mình coi thi và
chấm thi theo đề nghị của Ban kiểm tra, đánh giá. 3. Câu
hỏi ôn tập phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong
chương trình và đề cương chi tiết. Trưởng bộ môn phân công giảng viên có chuyên
môn phù hợp biên soạn từ 15 đến 25 câu
hỏi ôn tập cho mỗi học phần (số lượng câu hỏi tùy theo số đơn vị học
trình), duyệt và công bố trước sinh viên khi học học phần đó. Bộ câu hỏi ôn tập
được lưu 01 bản tại khoa / bộ môn và 01 bản tại Phòng Đào tạo. 4. Đề
thi: + Đề thi viết: trưởng khoa/ trưởng bộ môn trực thuộc
trường cử một hoặc vài giảng viên có chuyên môn phù hợp với học phần, dựa vào
các câu hỏi ôn tập nói trên, soạn đề thi và đáp án. Đề thi được đánh máy rõ ràng, chính xác. Mỗi học phần cần 02 đề,
kèm 02 đáp án (để riêng vào từng phong bì dán kín, ngoài phong bì đề rõ đề thi
hoặc đáp án môn thi). Người ra đề ký niêm phong, nộp cho trưởng khoa / trưởng
bộ môn trực thuộc trường. Trước giờ thi ít nhất 30 phút (đủ thời gian để bốc
thăm, kiểm tra và nhân bản đề thi), trưởng khoa / trưởng bộ môn trực thuộc
trường bốc thăm trước giảng viên để chọn một đề (tự mình kiểm tra đề, nếu cần
sửa chữa nhỏ ngay tại chỗ), nhân bản theo số lượng phòng thi, niêm phong đề cho
từng phòng thi. Đề không được chọn là đề dự phòng, được giữ nguyên niêm phong.
Phong bì đựng đáp án chỉ mở khi chấm thi. Người ra đề chịu hoàn toàn trách
nhiệm về tính khoa học và việc bảo mật đề thi.
+ Đề thi vấn đáp: Trưởng khoa / trưởng bộ môn trực
thuộc trường cử một hoặc một vài giảng viên có chuyên môn phù hợp soạn đề thi
và đáp án. Mỗi môn thi cần có 20 đến
30 đề dựa trên các câu hỏi ôn tập (nêu ở phần thi viết). Trưởng khoa / trưởng
bộ môn duyệt trước hệ thống đề thi, nếu cần, cùng với người ra đề sửa chữa cho
hoàn chỉnh. Đề thi vấn đáp không công bố trước cho sinh viên. Trước giờ thi 15
phút, đề thi và đáp án được giao cho 2 giảng
viên chấm thi. Đề thi và đáp án
(viết, vấn đáp) được lưu giữ tại khoa / bộ môn trực thuộc trường và Phòng Đào
tạo. + Đề thi trắc nghiệm: Trưởng khoa / trưởng
bộ môn trực thuộc trường cử một hoặc một vài giảng viên có chuyên môn phù hợp
soạn bộ đề thi trắc nghiệm và đáp án. Mỗi
môn thi cần có 25 đến 35 bộ đề thi trắc nghiệm (có đánh số) dựa trên các câu
hỏi ôn tập (nêu ở phần thi viết). Trưởng khoa / trưởng bộ môn duyệt trước hệ
thống bộ đề thi, nếu cần, cùng với người ra đề sửa chữa cho hoàn chỉnh. Đề thi
trắc nghiệm không công bố trước cho sinh viên. Trước khi thi từ 2 đến 3 ngày,
Trưởng bộ môn chuyển bộ đề thi trắc nghiệm và báo số lượng sinh viên dự thi đến
Phòng Đào tạo để nhân bản, đóng gói đề thi. Nguyên tắc phát đề thi trắc nghiệm
đến thí sinh là để cho các sinh viên ngồi gần kề không trùng đề thi. Đáp án được trưởng bộ môn giao cho 2 giảng
viên ngay trước khi chấm thi. 5. Hình thức và thời gian thi: + Hình
thức thi kết thúc
học phần có thể là thi viết, trắc nghiệm, vấn đáp hoặc viết tiểu luận. Riêng hình thức thi viết tiểu luận chỉ áp dụng đối
với học phần từ 60 tiết trở lên và với những sinh viên có điểm kiểm tra giữa
học phần đạt mức khá trở lên (từ 7 điểm
trở lên). Giảng viên giảng dạy bộ môn căn cứ kết quả bài kiểm tra giữa học
phần để quyết định sinh viên nào thi theo hình thức viết tiểu luận và lập danh
sách gửi về Phòng Đào tạo. Hiệu trưởng
ủy quyền cho các Trưởng khoa / Trưởng bộ môn trực thuộc trường quyết định hình
thức thi kết thúc mỗi học phần, thông báo với Phòng Đào tạo và công bố cho sinh
viên biết khi bắt đầu giảng dạy mỗi học phần. + Thời gian thi: - Thi viết: Học
phần có 2 đơn vị học trình: 60 phút; Học phần có 3 đơn vị học trình: 90 phút;
Học phần có 4 đơn vị học trình trở lên: 120 phút. - Thi vấn đáp:
chuẩn bị đề cương tối đa 15 phút, trình bày và trả lời câu hỏi tối đa 10 phút. - Thời gian làm
bài thi trắc nghiệm: tùy theo số đơn vị học trình và được Khoa / Bộ môn quy
định trong đề thi. Tối đa: 90 phút. 6. Trong buổi thi: Giám thị và giám khảo có nhiệm vụ kiểm tra Thẻ
sinh viên đối chiếu ảnh và người thi trước và trong khi thi. - Thi viết: Sinh
viên làm bài trên giấy thi tuyển sinh nhận từ Phòng Đào tạo. Cách thức coi thi và xử lý kỷ luật phòng
thi theo quy chế tuyển sinh. Sinh viên nộp bài phải ký vào danh sách dự thi
(danh sách do Phòng Đào tạo cung cấp). Ngay sau buổi thi, giám thị bàn giao bài
thi cho Phòng Đào tạo cùng danh sách sinh viên đã ký nộp bài (Phòng Đào tạo lập
sổ giao nhận bài thi, bảng điểm với giảng viên). - Thi vấn đáp:
Sinh viên lần lượt được gọi theo danh sách vào phòng thi, bốc thăm để nhận đề
thi, về chỗ chuẩn bị tối đa 15 phút trên giấy (có chữ ký giám khảo hoặc giám
thị) sau đó lên trình bày và trả lời câu hỏi phỏng vấn thêm của giám khảo.
Trước khi ra khỏi phòng thi, sinh viên phải nộp lại bài chuẩn bị trên giấy thi
và ký vào danh sách dự thi. - Thi trắc nghiệm:
sinh viên làm bài trực tiếp trên đề thi. Sinh viên tuyệt
đối không được sử dụng tài liệu trong khi thi viết, vấn đáp hoặc trắc nghiệm
(trừ những đề thi có ghi rõ được phép làm điều này). 7. Chấm thi: + Chấm
thi viết / trắc nghiệm: -
Phòng Đào tạo lập danh sách và mời giảng viên (sau khi hai
bên đã thỏa thuận về thời gian) đến chấm tập trung tại hội trường (không giao
bài cho giảng viên mang về nhà). -
Việc chấm thi viết / trắc nghiệm phải do hai giảng viên đảm
nhiệm. Điểm thi phải được công bố chậm nhất sau mười ngày, kể từ ngày thi. -
Thời gian lưu giữ các bài thi viết / trắc nghiệm tại Phòng
Đào tạo ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi. + Chấm
thi vấn đáp: Việc chấm thi vấn
đáp
phải do hai giảng viên thực
hiện. Điểm thi vấn đáp phải công bố công khai ngay sau mỗi buổi thi khi hai
giảng viên chấm thi thống nhất được điểm chấm. Trong trường hợp không thống
nhất được điểm chấm, cần lấy điểm trung bình cộng của 2 giảng viên làm điểm
chính thức của bài thi kết thúc học phần. 8. Các điểm thi
kết thúc học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường, có chữ
ký của hai giảng viên chấm thi và làm thành 3 bản, lưu tại Bộ môn, Văn phòng
khoa và Phòng đào tạo. 9. Sinh viên vắng
mặt trong kỳ thi kết thúc học phần nếu không có lý do chính đáng thì phải nhận
điểm 0 (không) ở kỳ thi chính. Những sinh viên này chỉ còn quyền dự thi một lần
ở kỳ thi phụ sau đó và điểm thi được tính ở lần 2. 10. Sinh viên vắng
mặt có lý do chính đáng (phải có đơn trình bày, được giảng viên phụ trách học
phần phê duyệt chấp nhận vắng thi) ở kỳ thi chính, sau khi báo cáo với phòng
Đào tạo, được dự thi ở kỳ thi phụ sau đó và được tính là thi lần đầu. Nếu thi
lần đầu chưa đạt, những sinh viên này
chỉ được dự thi lần thứ hai tại các kỳ thi kết thúc học phần tổ chức cho sinh
viên các khóa học dưới hoặc trong học kỳ hè (trong thời gian 1 năm học). Nếu để
quá thời hạn này, sinh viên phải học lại học phần đó. Trường hợp đặc biệt ngoài
thông lệ này, cần trình Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo
quyết định. 11. Trong trường
hợp cả hai kỳ thi chính và phụ mà điểm học phần vẫn dưới 5 thì sinh viên phải
đăng ký học lại học phần này với số lần được dự thi như đối với một học phần
mới. Những sinh viên này phải nộp lệ phí học lại theo quy định của Nhà trường
và hướng dẫn của Phòng đào tạo. Điều 13. Cách tính điểm kiểm tra, điểm thi, điểm trung
bình chung và xếp loại kết quả học tập 1. Điểm đánh giá
thành phần (tích cực học tập, kiểm tra giữa học phần, thi kết thúc học phần) đều
theo thang điểm 10 (có thể lấy lẻ đến 0,25), nhân với trọng số quy định của
thành phần tương ứng. Tích số là điểm chính thức của thành phần điểm này và được
ghi vào cột tương ứng của bảng điểm do Phòng Đào tạo cung cấp. Điểm kết luận học phần là tổng của 3 điểm thành phần (sau
khi đã nhân với trọng số) Nếu điểm kết luận có phần thập phân thì được làm
tròn đến phần nguyên theo nguyên tắc:
-
Phần
thập phân từ 0,1 đến cận 0,5: bỏ, chỉ lấy phần nguyên -
Phần
thập phân từ 0,5: làm tròn thành 1,0
để cộng sang phần nguyên. 2. Điểm trung bình
chung học tập: a) Công thức tính điểm trung bình chung học tập như sau: ![]()
Trong đó: A là điểm trung
bình chung học tập hoặc điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học ai là điểm của học phần thứ i ni là số đơn vị học trình của học phần thứ i N là tổng số học phần. Điểm trung bình
chung học tập của mỗi học kỳ, mỗi năm học, mỗi khoá học và điểm trung bình
chung tất cả các học phần tính từ đầu khoá học được tính đến hai chữ số thập
phân. b) Kết quả các học
phần giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất và kết quả kỳ thi tốt nghiệp đối
với các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh không tính vào điểm trung
bình chung học tập của học kỳ, năm học hay khoá học. Điểm thi tốt nghiệp các
môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đạt từ 5 điểm trở lên. Giáo dục thể chất
và giáo dục quốc phòng, mỗi môn được coi là 1 học phần và chỉ có một lần thi.
Nếu học nhiều phân môn thì mỗi phân môn cho điểm riêng. Điểm học phần là điểm
trung bình cộng của điểm các phân môn, được làm tròn đến phần nguyên. c) Việc xét thôi
học, ngừng tiến độ học, được học tiếp, xét tốt nghiệp và điểm trung bình chung
các học phần tính từ đầu khóa học được tính
theo điểm cao nhất trong các lần thi. 3. Xếp loại kết
quả học tập: a) Loại đạt: Từ 9 đến 10: Xuất sắc Từ 8 đến cận 9: Giỏi Từ 7 đến cận 8: Khá Từ 6 đến cận 7: Trung bình khá Từ 5 đến cận 6: Trung bình b) Loại không đạt: Từ 4 đến cận 5: Yếu Dưới
4: Kém Chương IV THI TỐT NGHIỆP VÀ CÔNG NHẬN TỐT
NGHIỆP Điều 14. Điều kiện chung để sinh
viên làm khoá luận tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp Điều kiện để được
xét dự thi tốt nghiệp và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp: - Cho đến thời điểm xét thi và bảo vệ khóa luận,
sinh viên đang không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự; - Hoàn thành nghĩa vụ các tuần sinh hoạt “ công dân
– sinh viên” hàng năm (dự học đầy đủ và trả các bài thu hoạch đạt yêu cầu); - Hoàn thành nghĩa vụ đóng học phí. Điều 15: Thi tốt
nghiệp 1. Thi tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục
chuyên nghiệp áp dụng cho sinh viên đại học không được giao làm khoá
luận tốt nghiệp và sinh viên cao đẳng, sau khi đã tích lũy đủ số học phần quy
định cho chương trình. 2. Nội dung thi
tốt nghiệp khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm hai phần: phần kiến thức cơ sở ngành và phần kiến thức ngành; được tổng hợp từ một số học phần bắt buộc trong khối
kiến thức tương ứng của chương trình. Từ
hai phần kiến thức này hình thành hai môn thi tốt nghiệp (mỗi phần kiến thức
gồm từ 2 đến 3 học phần) được ghi trong chương trình đào tạo. Khi tính điểm trung bình chung học tập, mỗi
môn thi được nhân hệ số 5. Đề thi viết: mỗi môn thi phải có 3 đề, 3 đáp án. Mỗi đề thi
đều liên quan đến các học phần nêu ở
trên (tránh trường hợp một đề thi chỉ liên quan đến một học phần). Các môn khoa học
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, khi tổ chức thi tốt nghiệp, được tổ hợp thành một môn thi. 3. Nhà trường xây
dựng ngân hàng đề thi tốt nghiệp và giao cho một thành viên trong Ban giám hiệu
bảo mật. Trước giờ thi, tổ chức bốc thăm công khai trước tập thể Thường trực
Hội đồng thi tốt nghiệp để chọn và nhân bản đề thi. 4. Hình thức và
thời gian thi tốt nghiệp: + Hình thức: -
Thi viết: áp dụng đối với phần kiến thức cơ sở ngành. -
Hình thức khác, áp dụng đối với
phần kiến thức ngành: do Khoa đề
xuất trước mỗi kỳ thi, được Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo phê
duyệt đối với từng trường hợp cụ thể . + Thời gian thi
viết: 180 phút; 5. Chấm thi tốt
nghiệp: - Phải có 2 giảng
viên chấm 1 bài thi. - Điểm thi viết
được công bố chậm nhất sau 10 ngày (tính từ ngày thi). - Điểm chính thức
là điểm đã được thống nhất của 2 giảng viên và chỉ có phần nguyên, không có
phần thập phân (được làm tròn số theo nguyên tắc điểm kết luận học phần ghi ở
Điều 13). - Điểm thi tốt nghiệp
hai môn (kiến thức cơ sở ngành và khiến thức ngành) hoặc điểm bảo vệ khóa luận
được tính vào điểm trung bình chung học tập toàn khóa. - Điểm thi tốt
nghiệp các môn khoa học Mác –Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là điểm điều kiện để
xét tốt nghiệp. Điều 16. Khóa luận tốt nghiệp 1.
Điều kiện để sinh
viên
được xét làm khóa luận tốt nghiệp: điểm trung bình chung học tập 3 năm đầu đạt
từ 7,0 trở lên. 2.
Trưởng khoa lập danh
sách cán bộ hướng dẫn, phân công cán bộ hướng dẫn trong khoa và đề nghị
Hiệu trưởng duyệt danh sách mời cán bộ hướng dẫn ngoài khoa, ngoài trường. Tiêu chuẩn cán bộ
hướng dẫn khóa luận: là giảng viên (hoặc tương đương) trở lên, có chuyên môn
phù hợp với yêu cầu hướng dẫn khóa luận; có khả năng nghiên cứu khoa học; có
trách nhiệm, nhiệt tình đối với việc hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học.
Số lượng đề tài khóa luận giao cho giảng viên hướng dẫn được giới hạn ở mức cao
nhất như sau: Giảng viên: 3 đề tài; Giảng viên chính và Tiến sĩ: 4 đề tài; Phó
giáo sư, Giáo sư: 5 đề tài. 3 . Duyệt và giao đề tài khóa luận: Sau khi
được phân công, người hướng dẫn khoa học làm việc với sinh viên để xác định đề
tài và gửi đề tài cho Trưởng khoa chậm nhất vào cuối học kỳ 1 năm thứ 4 của
khóa học. Hội đồng khoa học Khoa họp duyệt đề tài cho toàn khóa. Nếu đề tài có
vướng mắc, cần trao đổi với người hướng dẫn để sửa chữa hoặc thay đề tài mới.
Đề tài được lưu tại Khoa để tránh trùng lặp trong những năm sau. 4. Khóa luận đủ tiêu chuẩn được bảo vệ: + Hình thức: Chữ
in, đóng bìa cứng, có đủ bìa chính, bìa phụ theo mẫu của trường, dày từ 50 đến
60 trang khổ A4 (không tính phụ lục), có bản tóm tắt dài từ 8 đến 10 trang in. + Nội dung: được
người hướng dẫn xác nhận bằng văn bản bảo đảm nội dung đạt yêu cầu và đề nghị cho
bảo vệ. Nếu nội dung không đạt yêu cầu,
cần đề nghị gia hạn cho sinh viên hoặc cho sinh viên chuyển sang dự thi tốt
nghiệp (nếu kịp thời gian ôn tập và thi). Văn bản đề nghị cho
sinh viên bảo vệ khóa luận của người hướng dẫn và toàn văn khóa luận cần nộp về
khoa trước khi bảo vệ 15 ngày. Khóa luận được giao cho người phản biện trước
khi bảo vệ ít nhất 10 ngày. 5. Hội đồng chấm khóa luận: + Hiệu trưởng hoặc
Phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo ký quyết định thành lập Hội đồng chấm khóa
luận tốt nghiệp. + Thành viên của Hội đồng là người có chức danh giảng
viên hoặc tương đương trở lên, có chuyên môn phù hợp với ngành đào tạo của sinh
viên làm khóa luận. + Hội đồng chấm
một khóa luận có từ 3 đến 5 thành viên do Trưởng khoa đề nghị gồm: Chủ tịch, Ủy
viên thư ký và các Ủy viên. Người hướng
dẫn khoa học và người phản biện có thể tham gia hoặc không tham gia Hội đồng. Nếu
không tham gia Hội đồng thì cho điểm đánh giá khóa luận vào một phiếu kín và
gửi cho Hội đồng. Nếu tham gia Hội đồng thì cho điểm vào 2 phiếu kín (1 phiếu
với tư cách người phản biện hoặc hướng dẫn, 1 phiếu với tư cách thành viên Hội
đồng). + Hội đồng chỉ họp
khi có mặt từ 3 thành viên trở lên. Chủ tịch hội đồng và ủy viên thư ký nhất
thiết không được vắng mặt. + Hội đồng cho
điểm bằng hình thức bỏ phiếu kín. Điểm trung bình cộng của các thành viên là
điểm chính thức của khóa luận (điểm lẻ lấy 1 chữ số của phần thập phân, nếu chữ
số thứ 2 của phần thập phân từ 6 trở lên thì làm tròn để tăng thêm 1 cho chữ số
thứ nhất ). + Biên bản chấm
khóa luận ghi theo mẫu của trường, được làm thành 2 bản, 1 bản lưu tại khoa, 1
bản gửi về Phòng Đào tạo. + Khóa luận được lưu 1 bản tại Khoa và gửi về Thư viện trường 1
bản (kèm đĩa mềm). 6. Kết quả chấm khóa luận phải được công bố
ngay sau buổi bảo vệ. Điểm khóa luận tốt nghiệp được nhân hệ số 10 và tính vào điểm
trung bình chung học tập toàn khóa học .
Sinh viên bảo vệ khoá luận tốt nghiệp, thi tốt nghiệp khối kiến
thức giáo dục chuyên nghiệp và các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh nếu có điểm dưới 5, được nhà trường tổ chức cho bảo vệ hoặc thi lại trong
thời gian từ 3 đến 6 tháng sau khi công bố kết quả. Nội dung thi, hình thức
thi, ra đề thi, tổ chức thi, chấm thi, tổ chức bảo vệ khóa luận, xét và đề nghị công nhận tốt nghiệp
cho những sinh viên này được thực hiện như ở kỳ bảo vệ chính và kỳ thi chính. Điều 17. Đi thực
tế và thực tập cuối khoá 1. Sinh viên năm
thứ 3, ở học kỳ 2, đi thực tế tại cơ sở trong thời gian 7 tuần. Nội dung đi thực tế do Trưởng khoa quy định.
Sau khi đi thực tế về, sinh viên phải viết báo cáo thu hoạch. Trưởng khoa tổ
chức đọc, nhận xét và cho điểm. Điểm thực tế này được nhân hệ số 2 và ghi vào
bảng điểm. 2. Sinh viên năm
thứ 4 đi thực tập cuối khóa, ở học kỳ 2 trong thời gian 12 tuần. Nội dung thực tập do Trưởng khoa quy định. Sinh viên
phải hoàn thành các bài tập do Khoa giao. Trưởng khoa tổ chức đánh giá các bài
tập và cho điểm. Điểm thực tập này được nhân hệ số 4 và ghi vào bảng điểm. 3. Sinh viên làm
khóa luận tốt nghiệp được giảm thời gian thực tập tối thiểu là 2 tuần để có
thêm thời gian viết khóa luận. Những sinh viên này vẫn phải hoàn thành các bài
tập thực tập, được đánh giá, tính điểm, ghi điểm như các sinh viên khác. Điều 18. Điều kiện
xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp 1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được xét tốt nghiệp: a) Cho đến thời
điểm xét tốt nghiệp, sinh viên không đang trong thời gian bị truy cứu trách
nhiệm hình sự; b) Tích lũy đủ số
học phần quy định cho chương trình, không còn học phần bị điểm dưới 5,0; c) Được xếp loại
đạt ở kỳ thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; d) Được xếp loại
đạt và có chứng chỉ các môn giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất đối với
các ngành đào tạo không chuyên về quân sự và thể dục thể thao. 2. Căn cứ đề nghị
của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng
ủy quyền ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ các điều
kiện theo quy định trên. Hội đồng xét tốt
nghiệp thường niên do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ
quyền làm Chủ tịch, Trưởng phòng Đào tạo làm thư ký và các thành viên là các Trưởng khoa chuyên môn làm
ủy viên. Điều 19. Cấp bằng
tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập và chuyển loại hình đào tạo 1. Bằng tốt nghiệp
đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính. Bằng chỉ được cấp cho sinh
viên khi đã ghi đầy đủ, chính xác các nội dung trên tấm bằng theo quy định hiện
hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xếp hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm
trung bình chung học tập của toàn khoá học quy định tại khoản 3 Điều 13 của bản
hướng dẫn này. 2. Hạng tốt nghiệp
của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị
giảm đi một mức nếu vi phạm vào một trong các trường hợp sau: a) Có khối lượng
của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số đơn vị học trình quy
định cho toàn khoá học; b) Đã bị kỷ luật
trong thời gian học từ mức cảnh cáo trở lên. 3. Kết quả học tập
của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm của sinh viên theo từng học phần và
lưu trữ lâu dài (trong máy tính) ở Phòng Đào tạo. Trong bảng điểm còn phải ghi
chuyên ngành, hướng chuyên sâu hoặc ngành phụ nếu có. 4. Những sinh viên
còn chưa hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, các môn thi tốt nghiệp hoặc các môn
giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất nhưng đã hết thời gian tối đa được
phép học, trong thời hạn 3 năm tính từ ngày kết thúc khóa học, được trở
về trường thi lại để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp cùng với sinh viên các khóa
dưới. Quá thời hạn trên, sinh viên không được bảo lưu kết quả học tập và vĩnh
viễn không được xét tốt nghiệp. 5. Sinh viên không
tốt nghiệp, trong thời hạn 3 năm sau khi kết thúc khóa học được cấp giấy chứng
nhận về các học phần đã học trong chương trình của trường. Những sinh viên này
nếu có nhu cầu, được quyền làm đơn xin phép chuyển xuống chương trình khác thấp
hơn, cùng ngành theo quy định tại khoản 4, Điều 6 của bản hướng dẫn này. Chương V XỬ LÝ VI PHẠM Điều 20.
Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra 1. Trong khi kiểm
tra thường xuyên, kiểm tra giữa học phần, thi kết thúc học phần, thi tốt
nghiệp, bảo vệ khoá luận nếu vi phạm quy
chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật đối với từng học phần. 2. Sinh viên thi hộ hoặc nhờ người
thi hộ đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập 1 năm đối với trường hợp vi phạm
lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai. 3. Trừ trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với
sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại
học, cao đẳng hệ chính quy. Q.
HIỆU TRƯỞNG (đã ký) TS. Nguyễn
Văn Cương Lượt xem: 7359 |
Xem nhiều
|