Kiến trúc Pháp và những dấu ấn ở Việt Nam(Vietimes)- Một người phụ nữ cao, tóc vàng, mặc một bộ đồ đen và một cô gái nhỏ nhắn người châu Á đứng trước mũi của một con thuyền di chuyển chầm chậm trên một con sông rộng. Người phụ nữ tóc vàng tên là Catherine Deneuve, ngôi sao của bộ phim “Đông Dương” sản xuất năm 1992, nói về cuộc chiến tranh chống Pháp giành độc lập ở Việt Nam.
Ảnh: Internet Nhưng để thực sự nắm bắt được vẻ đẹp của bộ phim – nét đẹp của vải lụa, sự di chuyển chậm chạp của các cái quạt trên trần nhà, các cánh cửa sổ mái hắt, những cây me, cái tẩu thuốc bằng sơn mài và những ly cà phê hơi xỉn màu,… thì bạn phải đến thăm Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam, cũng là trung tâm hành chính thuở xưa của thuộc địa Pháp ở Đông Dương (bao gồm cả Campuchia và Lào). Ở Hà Nội, người Pháp đã xây dựng những con đường rộng tràn ngập hai hàng cây ven đường, những khu biệt thự tuyệt đẹp được thiết kế theo kiểu lai ghép chùa Norman và sao chép mô hình của Opera Garnier ở Paris. Họ truyền bá ngôn ngữ của Voltaire, một nhà văn, nhà phê bình, nhà thần luận và triết học người Pháp, họ truyền đạo Thiên chúa và mở rộng các hộp đêm; Họ dạy người Việt làm thế nào để làm bánh ngọt; và đổi tên các con đường thành tên của những người có quyền cao chức trọng của Pháp. Ngày nay, hầu hết những người Mỹ đến
thăm Việt Nam đều biết rằng các cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc
khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975, và người Việt Nam bây giờ thân thiện hơn
rất nhiều. Người nước ngoài, kể cả người Mỹ đến Việt Nam có thể đi thăm
những ngôi chùa, đi bộ trên núi, đi mua sắm đồ cổ và nghỉ ngơi trên
những bãi biển đẹp một cách thoải mái. Việt Nam đã từng là nước có nền kinh tế
đình trệ sau các cuộc chiến tranh, nhưng những cải cách thị trường tự
do vào những năm 1980 đã làm cho nền kinh tế nước này ngày càng thay
đổi. Năm 2005, Việt Nam đã tổ chức kỉ niệm 25 năm xây dựng và phát
triển, giai đoạn đã đạt được những thành tựu to lớn. Các công trình xây
dựng và tình trạng ô nhiễm tràn lan khắp nơi, đặc biệt là ở Sài Gòn,
nay là thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố phía Nam của đất nước. Miền
Bắc có vẻ hơi tụt lại đằng sau vì nó xuất phát sau và thoát khỏi khó
khăn chậm hơn.
Người nước ngoài đến Việt Nam vẫn thích thả bộ theo các phố cổ Hà Nội ở phía Tây và phía Bắc hồ Hoàn Kiếm, xem người Việt Nam nấu nướng, ăn uống trên các vỉa hè. Truyền thống ăn ngoài trời có lẽ là được tiếp thu từ kiểu cà phê ngoài trời của Pháp, đây đó, mọi người ngồi trên các dãy bàn dưới những cái lọng có in hình quảng cáo nước suối La Vie và thưởng thức các món ăn của mình. Như ở Montmartre và St.Germain-des-Prés ở Paris, mọi người thường có thói quen hút thuốc, tranh luận và uống cà phê loãng, còn ở Việt Nam, người ta tụ tập rất đông đúc và uống cà phê đặc đến nỗi nó trông như một chất gì đó màu đen, thậm chí cả khi người ta đã thêm sữa. Thăm phố cổ Tôi ở một khách sạn đáng yêu mang tên Hồng Ngọc. Buổi sáng đầu tiên, tôi đi ra đường mua hoa từ một người bán rong bằng xe đạp. Ở một góc đường, tôi nhìn thấy Tân Mỹ, một cửa hàng đồ lụa và đồ thêu của những người phụ nữ thuộc ba thế hệ ở Việt Nam. Sau đó, bị cuốn hút bởi sự quyến rũ của vẻ đẹp của đất nước này, tôi vẫn thả bộ, mặc dù ý định là chỉ đi ra đường để mua một bó hoa. Trên đường Hàng Trống, những người bán hàng rong bán bánh mì gậy, và những họa sĩ bắt đầu bày giá vẽ trên cây cầu dẫn vào đền Ngọc Sơn trên hồ Hoàn Kiếm. Tại Fanny, một cửa hàng kem ở phía Tây của hồ, có rất nhiều loại kem và những cây kem luôn có nhiều kem và tuyệt ngon như tại Berthillon ở Île-St.-Louis ở Paris. Xe hơi và xe máy phá vỡ sự bình yên của các con đường, các loại xe đi len lỏi, chen chúc nhau, thậm chí còn có hành động chen lấn. Bất cứ nơi nào là ngã tư của những con đường chính thì giao thông ở đó lại hỗn độn hệt như ở xung quanh Étoile ở Paris. Một vài căn nhà ống dài, hẹp là kiểu kiến trúc điển hình của các phường hội trước khi là thuộc địa. Người Pháp đến, họ khuyến khích xây dựng nhà bằng đá và bê tông thay thế việc xây dựng bằng gỗ dễ cháy. Sự xác xơ của các ngôi nhà gây cho tôi ấn tượng khá mạnh, mặt tiền có cửa chớp màu xanh, chấn song bằng sắt và được trát đầy vữa. Phía bên kia của quán Café des Arts, một nhà hàng nằm trong ngõ Bảo Khánh với món súp hành nổi tiếng kiểu Pháp, đó là một căn nhà ống được tu sửa vẫn giữ nguyên dáng vẻ cũ nhưng được sơn bằng màu cam. Khu vực tôi thích nhất ở phố cổ là khu
vực xung quanh Nhà thờ lớn Hà Nội, còn có tên chính thức là St.
Joseph"s Cathedral, một trung tâm hành chính của Việt Nam trước khi
Pháp đến.
Nhà thờ Lớn - một trong những công trình kiến trúc Pháp ở Hà Nội. Ảnh: Vietnampictorial.com Tại số 13-15 đường Chân Cầm, tôi tìm thấy một ngôi nhà thời thuộc địa của Charles Lagisquet, kiến trúc sư thiết kế Nhà hát Lớn Hà Nội. Ngôi nhà đã được tu sửa rất nhiều, với một cái cổng cao, vườn rộng và mặt tiền màu vàng, bây giờ là Đại sứ quán Tây Ban Nha. Lối vào Nhà thờ Lớn rợp lá nằm trên phố Nhà Thờ, hai bên có những quán cà phê, các cửa hàng và các khách sạn dành cho người phương Tây đến du lịch. Gần đấy, có một cái ngõ hẻm dẫn đến Chùa Bà Đá, nơi các thầy tu người Pháp ẩn nấp khi những người nổi dậy tấn công vào những tên thực dân năm 1883. Những nhà truyền giáo người Pháp đã dẫn đường cho những tên thực dân xâm lược Việt Nam, trong đó có Pierre Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc), người đã từng đưa một hoàng tử trẻ của Việt Nam tên là Canh đến Versailles để gặp vua Louis XVI thế kỉ XVIII. Những ông cố đạo đã gieo những hạt giống của Thiên chúa giáo vào đất nước này và ngày nay có khoảng 6 triệu người trong tổng số hơn 84 triệu người Việt Nam theo đạo Thiên chúa. Khi tôi đến thăm Nhà thờ Lớn được xây theo kiểu kiến trúc Gôtic, mở cửa từ tháng 9 năm 1886, thì các cô gái trong những bộ áo dài vàng và đỏ đang tập để chuẩn bị cho một cuộc biễu diễn trong đêm Giáng sinh. Paris của Việt Nam Vào khoảng năm 1905, Hà Nội được xem là “Paris của Việt Nam”, nơi tập trung những sân chơi dành cho những tên thực dân giàu có nhờ bóc lột sức lao động, lúa gạo, cao su và buôn bán thuốc phiện. Cùng thời gian đó, thực dân Pháp cũng nỗ lực mang ánh sáng của văn hóa Pháp đến chiếu rọi ở những góc tăm tối nhất của thế giới. Một bằng chứng của việc truyền bá văn hóa Pháp vào Việt Nam là Pháp xây dựng cây cầu mới bắc qua sông Hồng, hệ thống đèn đường, đường tàu và các trường học nơi trẻ em Việt Nam học nói và viết ngôn ngữ của họ bằng các kí tự La tinh, một hệ thống phiên âm được Alexandre de Rhodes phát triển. Một vài học sinh giỏi trong số đó tiếp
tục con đường học vấn của mình ở Pháp sau đó lại trở về nước; Số khác
tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người
đã từng sống ở Paris từ năm 1917 đến 1923 và là vị cha già của Đảng
Cộng sản Việt Nam nói rằng mặc dù người Pháp ở Pháp rất tốt, nhưng
những tên thuộc địa người Pháp ở Việt Nam thì rất độc ác và không có
nhân tính.
Khi tôi chuyển đến khách sạn Metropole, một khách sạn được xây dựng bởi hai nhà đầu tư người Pháp nằm ở phía Tây nam hồ Hoàn Kiếm, tôi đã đi bộ với những bước chân của những tên thuộc địa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất căm ghét: Những người phụ nữ luôn quát tháo ra lệnh cho bọn phục vụ, rồi ngồi trước những cái quạt hút và hút thuốc phiện. Những người đàn ông mặc những bộ đồ lụa trắng và đội mũ Panama, uống rượu cô-nhắc và sô-đa, đi trên những chiếc xe sang trọng như Citroën đậu ở lối cổng cho xe ra vào của khách sạn Metropole. Khách sạn Metropole là hình ảnh thu nhỏ của Pháp ở Đông Dương. Từ khi được xây dựng vào năm 1901, nó là một trong những khách sạn sang trọng vào bậc nhất châu Á, là nơi đã từng ở của Charlie Chaplin và Paulette Goddard trải qua tuần trăng mật của họ; Graham Greene, tác giả của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Người Mỹ trầm lặng”, ra đời năm 1955 và hàng loạt người Mỹ nổi tiếng khác như ca sĩ Joan Baez, người đã phải trở về nước khi Mỹ ném bom Hà Nội năm 1972. Phóng viên Stanley Karnow mô tả khách sạn này là trong suốt thời chiến ở Việt Nam, là một “bóng ma” kinh khủng. “Sơn bong ra từ các trần nhà, các phòng tắm rò rỉ và chuột chạy nhốn nháo ngoài hành lang”, trong tác phẩm đoạt giải Pulitzer “Việt Nam, một huyền thoại” của ông. Nhưng ngày nay, khách sạn Metropole lại là niềm tự hào của Hà Nội nhờ được khôi phục vào năm 1990 dưới sự quản lý mới và đổi tên thành Sofitel Metropole. Các phòng đợi được làm bằng gỗ tối màu với tranh ảnh, sách báo cũ, nội thất trang trí theo kiểu Trung Hoa, cùng với các loại cây phong lan và lụa. Thảm trang trí trên các bậc thang dẫn đến những căn phòng tại khu vực cổ nhất, tuyệt vời nhất của khách sạn. Phòng ngủ của tôi phản ánh những ngày huy hoàng, lộng lẫy nhất của Metropole ở từng chi tiết nhỏ. Nó có một lối đi vào bằng sàn gỗ, một khu vực để tiếp khách rất lịch sự, ban công và chiếc giường lộng lẫy, nơi tôi nằm nghỉ ngơi trong buổi chiều nóng bức, nhìn lên trần nhà xem chiếc quạt quay chầm chậm. Nhà hàng Metropole, Le Beaulieu được xem là một trong những nhà hàng kiểu Pháp nấu ngon nhất ở Việt Nam. Nhưng khi tôi nghe nói ông bếp trưởng nổi tiếng ở đây, Didier Corlou vừa mới mở nhà hàng riêng của mình mang tên Verticale tại một ngôi nhà hình ống kiểu Pháp cổ của những năm 1930 trên một con ngõ nhỏ thì tôi đã đi đến đó để thưởng thức. Corlou, nổi tiếng là người áp dụng kĩ thuật nấu ăn cổ điển của Pháp vào Việt Nam mà nhiều người phương Tây không thể nhận ra, đã từng nấu cho cựu Tổng thống Pháp Jacques Chirac. “Cũng như người Pháp, người Việt Nam ăn được tất cả mọi thứ”, Corlou nói. Tôi đã để ông ấy tự chọn món ăn cho bữa ăn tối của tôi, một bàn ăn “kiểu Verticale độc đáo”, ông đã giúp tôi có một bữa ăn hoàn hảo với món batê, một loại bánh của Ý làm bằng nước ép xoài đến loại kẹo sô cô la mềm Ecuadorean. Sau đó, tôi đi lang thang trong phố cổ và men theo các khu biệt thự đến phía Tây, dừng lại ở l"Espace, một trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Pháp do chính phủ Pháp mở và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trên đường Nguyễn Thái Học, nơi có vài phòng trưng bày dành cho những họa sĩ Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, những người học các kĩ thuật vẽ phương Tây tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội. Tôi cũng dừng lại tại một nhà tù được các phi công Mỹ gọi là Hanoi Hilton, nơi John McCain, một trong những tù nhân chiến tranh đã từng bị giam giữ suốt 5 năm khi máy bay của ông bị bắn rơi năm 1967. Nhà tù Hỏa Lò cũng là một điểm dừng chân nổi tiếng cho những du khách Mỹ, nơi người Pháp xây dựng năm 1896 để giam cầm những người tù chính trị Việt Nam. Bị trói chặt vào những chiếc giường bằng gỗ trong những xà lim, họ đã không thể kháng cự được với bệnh ghẻ, bệnh lỵ và tra tấn. Một máy chém được mang từ Pháp sang để thi hành án tử hình. Sau khi thưởng thức một miếng bánh khoái khẩu Lorraine tại Kinh Doh, một hiệu bánh mì Pháp gần Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tôi tự nhận thấy rằng thật là nguy hiểm để lãng mạn hóa mọi thứ. Ở Việt Nam thời xưa, những người nông dân không nộp được thuế thì phải chịu cảnh mất ruộng, mất đất. Nghiện thuốc phiện là kế sách của bọn thực dân nhằm khống chế người dân tràn lan khắp mọi nơi. Bắt buộc tham gia quân đội và bị cưỡng chế làm nô lệ, nô dịch là một trong những cách bóc lột, làm giàu độc ác của thực dân. Nhìn thấy một bức ảnh có chữ kí của Deneuve, tôi đoán rằng cô đã viếng thăm Kinh Doh trong khi làm phim “Đông Dương”, và tôi tự hỏi liệu cô ấy, một người phụ nữ mang vẻ đẹp tinh hoa của Pháp có yêu Hà Nội thực sự hay cô ta chỉ biết rằng người Pháp đã đến đây khi họ lập thuộc địa ở Việt Nam? Susan Spano Hạ Anh (Vietimes) dịch từ Los Angeles Times Lượt xem: 2891 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|