Văn hóa »
Những “làng nói khoác” ở Việt Nam…
Một người dắt củ sắn vào cạp quần, về đến nhà đã bở tung. Có cây rau
muống to đến nỗi trèo lên ngọn cây nhìn thấy cả cột cờ Hà Nội. Làng có
con lươn, thịt thì nướng chả, xương thì đẽo cày… Đó là những câu chuyện
hàng ngày ở làng nói khoác Văn Lang. ![]() Một người dân làng Văn Lang đang trổ tài nói khoác trước gia đình mình Theo thống kê, đất nước ta có hàng chục làng cười từ Làng nói khoác Văn Lang Văn
Lang thuộc xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Đi theo Quốc lộ
32 chừng 75 km là đến đất Tam Nông, tôi tìm về với mảnh đất nổi tiếng
này để biết thêm những giai thoại độc đáo mà tức cười. Một miền trung
du Bắc bộ đầy màu xanh của lá cọ. Con người ở đây bình dị, gắn bó với
những cây cọ. Đến cả mái nhà cũng chủ yếu lợp bằng cọ, nằm xen với
những quả đồi thấp. Đi vòng vèo vài con đường, chúng tôi nhận ra ngôi
làng vẫn nằm trong một vùng nguyên sơ, nghèo nàn, ruộng nương hạn hẹp. Qua
giới thiệu, chúng tôi được đám trẻ đưa đến nhà cụ Hán Văn Sinh, một
người được coi là “Đại gia” của làng khoác. Cụ kể “Nơi đây được coi là
khởi nguồn của của nền văn hoá lúa nước. Ngày đó, tất cả những sản vật
nông nghiệp của làng đều tốt cả. Ai muốn cái gì tốt thì đều đến Văn
Lang, gà tốt đến, xôi dẻo đến, cá to đến… Từ đó người dân cứ nói khoác
các sản phẩm của mình lên nhằm ngợi ca những cái mình làm ra”. Kỳ
thực, cuộc sống của người Văn Lang đã làm nên cả một kho truyện cười
độc đáo. Có chuyện một người dắt củ sắn vào cạp quần, về đến nhà đã bở
tung. Chuyện mớ rau muống to đến nỗi trèo lên nhìn thấy cột cờ Hà Nội…
Bằng sự khéo léo tài tình, người dân đã biết chuyển những đề tài tưởng
như rất đời thường tưởng như chẳng có gì đáng nói như củ sắn củ khoai,
mớ rau… thành hấp dẫn. Nguyên do thế nào? Tôi được cụ Sinh bảo rằng:
“Cũng bởi thủ pháp phóng đại gây cười, cách kết thúc bất ngờ, ngôn ngữ
nặng, khó nghe, lắm lúc ê a. Từ đó người ta đặt cho những cái biệt danh
ngồ ngộ: Văn Lang cả làng nói khoác, Làng nói trạng…” Kho
chuyện cười của Văn Lang đã rất phong phú đa dạng. So với những làng
cười khác như Vĩnh Hoàng (Quảng Trị); Trúc Ổ (Sơn Dương-Tuyên Quang);
Đồng Sài (Bắc Ninh), truyện cười của Văn Lang đa dạng hơn nhiều, cả về
tính dí dỏm lẫn đề tài. Người ta sẽ cười vì: Văn Lang có một con lươn, thịt thì nướng chả còn xương đẽo cày. Những câu chuyện như: Tay ải tay ai, Con ếch cốm, Bác đi mua ‘nỏ’ lắm, Đỉa trâu, Củ sắn qua đường 24, Bưởi rụng chết trâu… đầy hài hước đều xuất phát từ làng này. Chuyện nói khoác của Văn Lang bó hẹp trong phạm vi nhỏ. Thường được lấy từ những sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất của người dân. Cái điêu ngoa của họ không đáng ghét. Nó mang đến nụ cười, sự sảng khoái, tạo nên sự lạc quan trước những hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn. Nên cái điêu ngoa ấy là đáng yêu. Cũng
có những chuyện cười để bài trừ, đả kích những thói hư tật xấu của xã
hội. Và vì thế mà chẳng bao giờ người dân dừng lại được những câu
truyện đó. Trên cánh đồng gặt, vụ cấy hái, ngoài chợ, lúc nghỉ ngơi,
bất kể lúc nào người dân cũng có thể nói để cười, để chia sẻ cho vơi
bớt mệt mỏi. Điều đó chứng tỏ rằng “di sản” của họ vẫn được bảo tồn. Làng trạng Vĩnh Hoàng ![]() Làng trạng Vĩnh Hoàng làm du lịch Làng
trạng Vĩnh Hoàng thuộc xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Năm
1949, xã Vĩnh Hoàng được thành lập, trong đó có ba thôn là làng Huỳnh
Công Đông, Huỳnh Công Tây, Huỳnh Công Nam nên chuyện trạng cả ba làng
còn được gọi là chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Nay xã Vĩnh Hoàng đổi thành xã
Vĩnh Tú. Năm
2006, khu du lịch Thủy Ứ của làng trạng được khai trương, cách thị xã
Đông Hà (Quảng Trị) chừng 50 km về phía bắc. Khu du lịch rộng, với
những hồ nước xanh trong ngăn ngắt, những ngôi nhà mái lá đơn sơ lợp cọ
dùng để cho khách nghỉ ngơi và có thể nghe... nói trạng. Ngoài ra du
khách còn có thể câu cá thư giãn, dạo thuyền, tắm nóng lạnh... Khu
du lịch hiện nay do Hội Người khuyết tật xã Vĩnh Tú quản lý. Tiền thu
được xung vào quĩ hội. Chúng tôi được chị Nguyễn Thị Hợi kể cho nghe
câu chuyện thú vị thế này: Có một
người đi câu cá, bắt một con cóc làm mồi. Đến hồ, ông lấy đà vút dây
câu một cái thì không ngờ dây câu văng sang bờ hồ phía bên kia. Trong
lúc không biết làm cách nào để gỡ lưỡi câu đang mắc vào bụi thì một con
chim cuốc nhảy ra ăn con cóc. Khi đang kéo cuốc thì con chồn từ trong
bụi rậm lao ra ngoạm con cuốc vào miệng, mắc phải lưỡi câu. Mừng quá
ông kéo dây câu thì… “bụp”, một con cá đô (lóc) từ hồ lao lên đớp trọn
con chồn. Con cá to quá, bà con xúm lại cùng nhau kéo con cá lên rồi
dùng cuốc to để đánh vảy. Sau đó mỗi người được tặng một chiếc vảy mang
về làm quạt. Mổ bụng con cá ra có cả chồn, mổ bụng chồn có cả chim
cuốc, mổ cuốc ra có hơn chén tép, đủ làm bảy món liên hoan cả làng thật
là vui... Nghe xong ai cũng òa cười. Làng
Vĩnh Hoàng xưa nghèo khổ, phải vật lộn với thiên tai, giặc giã để mưu
sinh. Trên cuộc hành trình gian khổ đó, người dân có một vũ khí rất lợi
hại để tự động viên mình, đó là chuyện trạng. Và trong cuộc sống sinh
hoạt hằng ngày, người ta đã sinh ra cả ngàn chuyện trạng, thành kho
tàng đặc sắc. Đây là kho chuyện cười trào tiếu dân gian, cũng giống như
chuyện cười của các làng trạng Bắc Bộ hay chuyện kể bác Ba Phi ở Nam
Bộ. Trong
chuyến thăm làng trạng lần này, tôi đặc biệt ấn tượng với chuyện “Bắt
nhầm cọp cày”, chuyện đã được vẽ thành tranh để bảo tồn. Nội dung như
sau: “Đêm nớ, tui đi cày sớm, ra
ngoài ràn (chuồng) bắt cặp bò đực cày đôi. Nhưng khi cài vào cày thấy
con bò không chịu đi, tức quá tui lấy roi đập một cây vào lưng bò, con
bò quay mặt dòm tui, thấy đực bò răng mà mặt mũi to đại chang, lạ quá.
Tui tới sát coi cho kỹ. Té ra, đêm nớ cọp vô ràn bắt bò ăn thịt. Ăn
xong, cọp chưa kịp ra khỏi ràn thì tui đã dậy đi cày quá sớm, bắt nhầm
cọp cài vô cày mà không biết. Tức quá, tui mở dây cày ra, đập cho hắn
một trận, hắn quá sợ, co bốn cẳng chạy vô rừng”. Làng nói khoác Dương Sơn Đất
Kinh Bắc không phải chỉ có những làng nghề, làng Quan họ nổi tiếng, mà
nó còn có những làng cười. Làng Quan họ chỉ tập trung ở một vài vùng
nhất định, còn làng cười thì gần như huyện nào cũng có, ví như huyện
Yên Phong có làng cười Đông Yên, huyện Tiên Sơn có làng cười Yên Tử,
Hiên Ngang, huyện Yên Dũng có làng cười Đông Loan, Nội Hoàng, huyện Quế
Võ có làng cười Đồng Sài, Trúc Ổ, huyện Tân Yên có làng cười Hòa Làng,
Dương Sơn. Những ngày cuối năm, trong không khí chuẩn bị đón xuân,
chúng tôi về làng Dương Sơn, một làng cười nổi tiếng, nơi đây con người
mộc mạc, yêu đời và luôn biết làm cho cuộc sống của mình trở nên tươi
đẹp. ![]() Nói khoác, món ăn tinh thần của người Dương Sơn. Người dân Dương Sơn nghĩ ra câu chuyện táo bạo, có thể làm sởn gai ốc của một số người nghe, đó là câu chuyện bắt hổ con: “Tôi đem hai con hổ con ra Hà Thành bán. Tiếng đồn đến tai ông Trưởng phường xiếc Tạ Duy Hiển, ông ta mời tôi vào nhà đãi làm thượng khách rồi đặt mua con hổ, tôi nhận tiền ra về. Tìm được hang hổ con mọn, tôi chui vào, rón rén bò qua đến chỗ hổ bố ngủ, tôi nhổ trụi râu nó, nó buồn quá lại càng ngủ say… Vượt qua hổ bố, tôi lần đến chỗ hổ con, bịt mũi đem ra, hổ bố vẫn gáy phe phe…”. Chuyện này người Hòa Làng không hề có. Hay như chuyện một người dân Dương Sơn gặp một người Hòa Làng, họ nói chuyện với nhau. Người Hòa Làng nói: -
Da vợ mình thật trắng khủng trắng khiếp, trắng từ chân lên đến cổ. Cô
ấy mà xắn quần lên thì thôi, ai muốn gọi là đùi cũng được, ai muốn gọi
là khúc sắn bóc vỏ cũng được... Người Dương Sơn bèn chen ngang: -
Thế đâu đã trắng bằng vợ tớ. Tớ nhớ, hồi máy bay Mỹ còn đánh phá khắp
nơi, hôm ấy vợ mình đi ăn cưới, cô ấy diện chiếc áo pôpơlin Nhật trắng,
mới nguyên. Đang đi giữa cánh đồng thì nghe tiếng máy bay, cô ta đang
trên đường chạy tới bờ mương để nấp thì những người ở dưới mương đã kêu
lên: “Cởi ngay cái áo ra, không máy bay nó trông thấy mất, cởi ngay ra,
cởi ngay ra”. Nghe vậy cô ấy vừa chạy vừa cởi áo. Nhưng vừa cởi áo xong
mọi người ẩn dưới lòng mương lại gào to hơn: “Mặc áo vào, mặc ngay áo
vào, không nó bắn chết cả đám bây giờ!”. Cậu thấy không, da vợ tớ trắng
đến thế kia mà!. Đúng là người Dương Sơn nói khoác gấp ba những làng nói khoác khác. Ông
Nguyễn Văn Thiết năm nay đã 80 tuổi, một người có nhiều năm nói khoác
tâm sự: “Dòng họ chúng tôi, đến đời tôi là 7 đời nói khoác. Điều này
không nhằm ý gì khác là sự vui vẻ, lạc quan với tính hai hước của người
nông dân. Với lại, do cuộc sống kinh tế nghèo nàn, những câu chuyện nói
khoác là để xua đi cái sự chật vật cố hữu, thể hiện cái khát vọng no
đủ...”. Đến con cháu của ông Thiết, đi ra Hà Nội học cũng mang theo
“cây nhà lá vườn”, khiến cả lớp họ được nhiều phen cười đến... vỡ bụng. Về
Dương Sơn, nếu đúng dịp đầu xuân tổ chức thi nói khoác thì thật vui.
Các cụ bảo cuộc thi vui vẻ đó đôi khi diễn ra từ sáng đến tối. Ngày xưa
những bậc lão thành của làng, với vốn kinh nghiệm dân gian, chuyện
khoác “đầy mình” nên không thanh niên nam nữ nào thắng được. Giờ các cụ
chủ yếu truyền đạt kinh nghiệm cho con cháu, còn phần thi giành nhiều
cho bậc trung niên và thanh niên. Các cụ các ông là những “cây” nói
khoác phải kể đến các cụ Nguyến Chí Bao, Trần Mãi, các ông Nguyễn Đình
Đại, Nguyễn Đình Vinh... Cuối
ngày, chúng tôi về nhà ông Nguyễn Đình Vinh, xin ông vài chuyện nữa để
mang về quê... ăn Tết. Nào ngờ khi nghe ông nói, mải nghe, mải nghĩ
quên mất cả ghi, may mà còn cái máy ghi âm. Ông Vinh khoe: “Năm ngoái tôi bắt được một con ếch, ăn thịt hai năm mới hết”. Tôi không tài nào đoán được chuyện có ý nghĩa gì, giải thích ra sao thì ông Vinh tiếp: “Đêm
30 cầm đèn qua bờ ao, bắt được một con ếch to về làm thịt, bắc mâm ra
còn là năm cũ, ăn qua giao thừa sang năm mới mới hết. Thế chẳng là con
ếch ăn hai năm mới hết là gì?” Chuyện
cười là kho tàng của những người nông dân còn lam lũ, vất vả nhưng vẫn
lạc quan, sống bằng tiếng cười. Đó là cái hồn quê, mộc mạc của người
dân Việt Theo Viettimes Lượt xem: 2051 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|