Có nhiều cách tiếp cận văn hoá là do đứng ở nhiều góc độ khác nhau để nghiên cứu về lĩnh vực này, từ cách tiếp cận văn hoá theo kiểu "tinh thần luận", "nhận thức luận" cho đến kiểu "thao tác luận"v.v... Mỗi phương pháp tiếp cận lại có nhiều quan niệm, nhiều cách định nghĩa về văn hoá khác nhau. Song, nhìn chung những quan niệm khác nhau đó đều bộc lộ một điểm chung nhất - Văn hoá là lớp thăng hoa trên cái tự nhiên, của con người và xã hội loài người.

Dưới góc độ của xã hội học thì văn
hoá là sản phẩm của con người, là quan niệm về cuộc sống, tổ chức cuộc sống và
là toàn bộ cách ứng xử của con người trong cuộc sống đó. Văn hoá chính là điểm
hội tụ sáng nhất, là tinh hoa của trí tuệ loài người. Nó là cái để phân biệt giữa
con người với con vật.
Văn hoá được xem là một lĩnh vực đặc
biệt của đời sống xã hội. Nó là trung tâm định hướng giá trị và điều tiết mọi
hoạt động của con người, đồng thời còn là quá trình "nhân hoá"
chính bản thân con người trong đời sống xã hội.
Ngày nay, có hàng trăm cách xác định
khoa học về văn hoá và nó được tiếp cận từ nhiều lĩnh vực khoa học, nhiều lĩnh
vực nghiên cứu khác nhau. Điều đó cho thấy các nhà khoa học đã quan tâm rất nhiều
đến vấn đề văn hoá.
Qua lăng kính của xã hội học văn
hoá và bằng phương pháp tiếp cận hệ thống để xem xét về bản chất xã hội của văn
hoá ta có thể hình dung ra một số nhóm tiếp cận văn hoá khác nhau như sau.
Nhóm một: Văn hoá như là thuộc tính bản chất của đời sống xã hội.
a. Văn hoá là một thuộc tính của
xã hội - Quá trình xã hội hoá cá nhân.
Trường phái tâm lý học - xã hội cho
rằng văn hoá như là quá trình xã hội hoá cá nhân trong đời sống xã hội. Quan điểm
này đã nhấn mạnh vào tính chất di truyền xã hội, chính là khả năng học tập của
con người. Nhiệm vụ chính của xã hội là phải định hướng và đưa mỗi cá nhân với
tư cách là thành viên của nhóm hội nhập vào nền văn hoá chung của toàn xã hội.
Kênh quan trọng nhất của quá trình này chính là kênh giáo dục.
Ruth Bennedict đã nhận định rằng:
"Văn hoá là lối sống mà con người học được chứ không phải là sự kế thừa
sinh học” (1).
b. Văn hoá là một thuộc tính của
nhân cách - Quá trình cá nhân hoá xã hội.
Quan niệm của tâm lý học - xã hội cũng
khẳng định nhân cách chính là bản chất của con người có trong đời sống xã hội
và coi văn hoá như là một thuộc tính của nhân cách.
Jean Ladriere cho biết: "Văn
hoá là toàn thể những môn học cho phép một cá nhân trong một xã hội nhất định, đạt
tới một sự phát triển nào đó về cảm năng, về ý thức phê phán và các năng lực nhận
thức, các khả năng sáng tạo, nói gọn lại là đạt tới một sự nẩy nở nào đó nhân
cách của hắn"(2).
Nhóm hai: Văn hoá như là một dạng hoạt động của đời sống xã hội.
a. Văn hoá là các dạng hoạt động
trong hệ thống xã hội tổng thể.
Quan niệm của xã hội học đã coi văn
hoá như là mặt cắt ngang của hệ thống xã hội tổng thể. Qua đó nhìn ra được toàn
bộ sự vận động và những mối tương tác có trong đời sống xã hội. Nói khác đi
quan niệm này đã xem hệ thống xã hội như là hệ thống văn hoá.
Nhà xã hội học Herskovist trong cuốn
"Man and his work" cho rằng "Văn hoá là lối sống của một
tập đoàn người và xã hội là tập thể được tổ chức bởi các cá nhân tuân theo lối
sống đó. Nói rõ hơn thì xã hội là tổ chức của con người, còn những hoạt động của
họ là văn hoá" (3).
V. Dobrianốp nhà xã hội học Mácxít,
người Bungaria cũng nhận định rằng: Bất cứ một xã hội nào cũng tồn tại bởi ba yếu
tố hợp thành nên hệ thống tương tác xã hội, đó là: Hoạt động xã hội - Chủ
thể xã hội - Quan hệ xã hội.
- Những dạng hoạt động xã hội cơ bản
là: Hoạt động tái sản sinh ra loài - Hoạt động sản xuất vật chất - Hoạt
động sản xuất tinh thần - Hoạt động giao tiếp - Hoạt động điều tiết (quản
lý).
- Chủ thể xã hội
bao gồm: Cá nhân - Nhóm - Thể chế xã hội - Xã hội tổng thể.
- Quan hệ xã hội gồm có: Quan hệ
sản xuất - Quan hệ tiêu dùng - Quan hệ trao đổi - Quan hệ phân phối (4)
b. Văn hoá là một dạng hoạt động đặc
thù - Hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hoá mang tính biểu tượng.
Theo quan niệm của Đoàn Văn Chúc
thì văn hoá được xem như một dạng hoạt động xã hội đặc biệt - Hoạt động rỗi -
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng các "Tác phẩm văn hoá"
mang tính biểu tượng, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người trong đời sống
xã hội.
Quan niệm này cho rằng: Trong bất kỳ
thời đại nào, con người cũng đều dùng thời giờ cho bốn loại hoạt động sau đây:
1- Những hoạt động thuộc lao động
sản xuất để bảo đảm sự sống còn cho cá nhân và xã hội. Đó là nghĩa vụ xã hội
của mỗi người (hoạt động làm việc).
2- Những hoạt động thuộc quan hệ
giao tiếp cá nhân trong đời sống xã hội. Đó là bổn phận xã hội của mỗi cá
nhân (hoạt động giao tiếp).
3- Những hoạt động thoả mãn nhu
cầu vật chất của con người (hoạt động sinh hoạt).
4- Những hoạt động thoả mãn nhu
cầu tinh thần của con người (hoạt động vui chơi - giải trí).
Loại hoạt động thứ tư là dạng hoạt động
diễn ra không nhiều trong ngày. Đó là thời giờ còn lại của mỗi người sau khi đã
hoàn thành ba loại hoạt động trên. Đó là loại hoạt động mà cá nhân được hoàn
toàn tự do lựa chọn theo sở thích để thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu giải
trí - tái sáng tạo ra các giá trị văn hoá. Về tính chất, có thể gọi
là hoạt động này là hoạt động rỗi - Hoạt động giải trí, nó diễn ra trong khoảng "thời gian rỗi"
của mỗi người (5).
Marx là người đầu tiên nhận thấy thời
giờ rỗi là nơi đem lại giá trị cho con người. Marx viết: "Tiết kiệm
thì giờ lao động là tăng thêm thì giờ tự do, tức là thì giờ dành cho sự phát
triển toàn diện của cá nhân, sự phát triển tác dụng trở lại sức lao động và làm
tăng sức lao động. Về phương diện sự sản xuất trực tiếp, thì giờ tiết kiệm được
có thể coi là dùng để sản xuất ra vốn cố định, một vốn cố định làm nên con người".
(Cơ sở của sự phê phán khoa kinh tế chính trị, nhà xuất bản Anthropos, Paris,
1967, tr.229 bản tiếng Pháp)(6).
Bản chất của thời giờ rỗi là thời
gian của sự hồi suy tái sáng tạo. Trong khuôn khổ của nhu cầu giải trí
thì hình thức mang vác sự hồi suy là các "tác phẩm văn hoá"
mang tính biểu tượng. Sự hồi suy là sự tự biểu hiện bản thân mình vào đời
sống xã hội và điều đó mang lại sự thoả mãn nhu cầu sáng tạo - nhu cầu văn hoá
của mỗi cá nhân với tư cách là thành viên sáng tạo của đời sống xã hội. Văn hoá
được xem là hoạt động rỗi trong thời giờ rỗi.
Nhóm ba: Văn hoá như là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do loài người
sáng tạo ra.
Quan niệm triết học về văn hoá đã
nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của con người trong lịch sử hình thành nên
"hệ giá trị xã hội" và xem "hệ giá trị" như
là cột trụ của văn hoá.
"Văn hoá là toàn bộ giá trị
vật chất và tinh thần được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực
tiễn lịch sử - xã hội, các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử
loài người" (7).
Theo các nhà triết học thì văn hoá
là toàn bộ hệ thống các giá trị - xã hội do con người sáng tạo nên và theo nghĩa
rộng nhất người ta có thể cho rằng bất cứ một thứ gì do con người làm ra đều
thuộc về văn hoá. Với nhận thức như vậy thì
văn hoá bao gồm cả hai lĩnh vực: Lĩnh vực văn hoá tinh thần như tư tưởng,
ngôn ngữ, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, thi ca, ứng xử .v.v.. thuộc về giá
trị tinh thần. Còn lại là lĩnh vực văn hoá vật chất như nhà cửa, đường
xá, cầu cống, quần áo, đèn, quạt, bàn ghế v.v.. và các đồ dùng vật chất khác đều
thuộc giá trị vật chất. Cả hai lĩnh vực này của văn hoá đều nhằm vào sự
thoả mãn toàn bộ những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
trong đời sống xã hội.
Nhóm bốn: Văn hoá như là một tiểu hệ thống của toàn bộ hệ thống xã hội - tiểu hệ
thống văn hoá tinh thần.
Bằng cách tiếp cận văn hoá theo nghĩa
hẹp (chuyên biệt) xem văn hoá như là tiểu hệ thống của hệ thống xã hội toàn diện,
quan điểm này nhấn mạnh vào chiều cạnh tư tưởng thuộc phương diện văn hoá tinh
thần của con người.
"Văn hoá là phương diện
tinh thần của thế giới nhân tạo, là toàn bộ yếu tố tinh thần ổn định có ở mỗi
con người, hoặc nhóm người, gắn liền với cái gọi là "ký ức thế giới"
hay "ký ức xã hội". Chúng được vật thể hoá thành hiện vật văn hoá và
thành ngôn ngữ" (Abrơham Môlơ)(8).
Quan niệm này nhấn mạnh văn hoá chỉ
là mặt biểu hiện của đời sống tinh thần, nhằm thoả mãn những nhu cầu tinh thần
của con người trong đời sống xã hội. Từ đó có sự phân biệt giữa văn hoá vật
chất - văn hoá kỹ thuật (Technical culture) với văn hoá tinh thần
(Spiritual culture).
- Văn hoá vật chất chỉ ra phương
thức hành động của con người để tồn tại trong đời sống vật chất, thường được gọi
là văn minh (civilisation). Mặt này luôn biến động theo đà phát triển của khoa
học kỹ thuật.
- Văn
hoá tinh thần bao gồm các lĩnh vực như: văn hoá - nghệ thuật, vui chơi giải
trí, tôn giáo, tín ngưỡng, lối sống, phong tục, tập quán v.v... và những phương
diện thuộc về trình độ ứng xử của con người được gọi là văn hoá (Culture).
Hai mặt này cùng song song tồn tại
và phát triển trong đời sống xã hội. Chúng luôn có mối quan hệ biện chứng và hổ
tương với nhau. Văn hoá chính là hạt nhân cốt lõi và là linh hồn của văn minh.
Lúc này văn hoá trở thành nền tảng tinh thần, là động lực tác động đến đời sống
vật chất, thúc đẩy cho nền văn minh phát triển. Với cách nhìn như thế văn
hoá được xem là một tiểu hệ thống của toàn bộ hệ thống xã hội.
Nhóm năm: Văn hoá
như là hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội.
Cũng từ cách tiếp cận văn hoá theo
nghĩa hẹp (chuyên biệt) quan niệm của trường phái xã hội học hiện đại xem văn
hoá như là một tiểu hệ thống của hệ thống xã hội toàn thể - một bộ phận xã hội đặc
biệt chuyên sản xuất ra các hệ thống biểu tượng thông tin (Symbol
systems and the information) cho đời sống xã hội.
Trong tác phẩm "Xã hội loài
người" của: Gerhard Lenski, Partrick Nolan và Jean Lenski, các tác giả
này đã đưa ra một mô hình xã hội toàn thể với năm thành phần căn bản của xã hội
loài người. Đó là năm tiểu hệ thống xã hội cùng tồn tại tương đối độc lập, nhưng
chúng lại có sự tác động hỗ tương với nhau trong một hệ thống chung - đời sống
xã hội.
Năm tiểu hệ thống xã hội này tương ứng
với năm yếu tố căn bản như sau: Dân số - Sản xuất vật chất - Sản xuất và
sử dụng các biểu tượng thông tin (văn hoá) - Tổ chức xã hội - Thể chế xã hội.
Toàn bộ hệ thống này được mô hình
hoá như một khối hình trụ - biểu thị cho hệ thống xã hội toàn thể với năm đoạn
cắt lát đều nhau, mỗi đoạn tương ứng với một yếu tố trong năm yếu tố căn bản
nói trên. Phần đáy khối trụ là yếu tố Dân số, tiếp theo là các yếu tố khác, còn
lại phần trên cùng khối trụ là yếu tố thể chế xã hội. Năm thành phần căn bản đó
tạo nên năm tiểu hệ thống trong toàn bộ hệ thống xã hội.
Ở mặt cắt ngang của tiểu hệ thống
thể chế xã hội lại được chia cắt thành sáu phần đều nhau giống như các múi cam
trong một quả cam. Chúng tương ứng với sáu thể chế xã hội cơ bản, đó là: Thể
chế gia đình và dòng họ - thể chế kinh tế - thể chế giáo dục
- thể chế chính trị - thể chế tôn giáo - các thể chế
khác.
Sáu thể chế này cắt dọc khối trụ ra
sáu phần đều nhau xuyên qua năm tiểu hệ thống xã hội căn bản. Như vậy ở mỗi tiểu
hệ thống xã hội căn bản cũng bao hàm trong nó sáu mặt biểu hiện của sáu thể chế
xã hội nói trên.
Bằng cách tiếp cận hệ thống để tìm
hiểu đời sống xã hội một cách toàn diện như vậy ta nhận thấy trong lòng của tiểu
hệ thống văn hoá cũng bao hàm sáu mặt biểu hiện của văn hoá là: văn hoá-
gia đình, văn hoá - giáo dục, văn hoá - kinh tế, văn hoá-
chính trị, văn hoá - tôn giáo - văn hoá khác như văn hoá -
nghệ thuật, văn hoá sinh thái v.v..(9).
Tóm lại, quan niệm của nhóm này đã
xem văn hoá như là trung tâm của toàn bộ hệ thống xã hội. Nó chi phối và điều
tiết tất cả mọi thể chế và cơ cấu xã hội khác bằng hệ thống các biểu tượng
thông tin. Những giá trị - chuẩn mực và các "khuôn
mẫu hành vi" nằm trong lòng các biểu tượng thông tin
đã tác động trở lại để điều tiết và định
hướng giá trị cho toàn xã hội, thúc đẩy xã hội vận động và phát triển. Biểu tượng
thông tin chính là hình thái biểu hiện của các giá trị xã hội. Có thể nói văn
hoá là hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội.
- Với cách tiếp cận xem văn hoá
như là hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội như trên, ta có thể
nhận ra ngay có sự tương đồng trong các cách tiếp cận khác nhau về văn
hoá. Tuy mỗi quan niệm có sự khác nhau về góc nhìn. Song, tựu trung mỗi cách tiếp
cận đều có thể xem văn hoá như là một tiểu hệ thống đặc biệt của hệ thống
xã hội toàn diện, chuyên sản xuất ra các hệ thống biểu tượng thông tin cho đời
sống xã hội. Nói khác đi, tiểu hệ thống biểu tượng - thông tin xã hội chính là
tiểu hệ thống văn hoá.
- Đối với quan niệm xem văn
hoá như là thuộc tính bản chất của đời sống xã hội thì yếu tố
làm nên nhân cách của con người chính là quá trình xã hội hoá và
cũng là quá trình văn hoá hoá của mỗi cá nhân thông qua các hệ thống biểu
tượng - thông tin xã hội. Đó là hệ thống các "khuôn mẫu hành vi",
trong nó hàm chứa những giá trị và chuẩn mực xã hội cùng những
kinh nghiệm đã được xã hội hình thành và thừa nhận nhằm giúp cho mỗi cá nhân có
thể hội nhập vào nền văn hoá chung của toàn xã hội. Quá trình này chính là quá
trình hình thành nhân cách của mỗi cá nhân trong đời sống xã hội.
Nhân cách xã hội bao gồm những lề lối
hành động của cá nhân đối với cộng đồng xã hội, thông qua những vai trò xã hội
mà các cá nhân nhập vai theo đó mà hành động. Sự thực hiện các vai trò xã hội
là sự biểu hiện nhân cách của hắn theo một "khuôn mẫu văn hoá" nào đó
đã được biểu tượng hoá thành những biểu tượng - thông tin xã hội. Hệ thống biểu
tượng - thông tin xã hội là tiểu hệ thống văn hoá.
- Đối với quan niệm cho rằng văn
hoá như là một dạng hoạt động của đời sống xã hội thì nhóm này nhận định
chủ thể tương tác xã hội cũng chính là chủ thể văn hoá. Bởi lẽ,
trong cùng một lúc anh ta đóng nhiều vai trò khác nhau, vừa là chủ thể sáng tạo
đồng thời lại là khách thể nhận thức, vừa là người tiêu dùng lại là người sản
xuất ra các sản phẩm văn hoá - một trong những sản phẩm của đời sống xã hội.
Hoạt động xã hội ở đây không chỉ được xem là những
hoạt động sản xuất ra các sản phẩm xã hội nhằm thoả mãn những nhu cầu cơ bản của
đời sống xã hội mà còn là những hoạt động trao đổi, phân phối và tiêu dùng các
sản phẩm đó. Trong các dạng hoạt động này có hoạt động sản xuất tinh thần.
Quan hệ xã hội cũng được xem xét một cách toàn diện
như quan hệ giữa cá nhân với nhóm xã hội, quan hệ giữa trao đổi với phân phối,
quan hệ sản xuất với tiêu dùng các sản phẩm xã hội, thông qua những thể chế xã
hội. Trong đó quan hệ tiêu dùng mang nhiều đặc trưng văn hoá.
Mô hình tương tác xã hội này đã
trình ra những yếu tố cho sự phân tích toàn diện về các mặt biểu hiện khác nhau
của các hệ thống cấu trúc, các cơ cấu, sự vận hành và sự phát triển của toàn bộ
đời sống xã hội. Song qua mô hình này ta đã nhận thấy được trong năm tiểu hệ thống
hoạt động xã hội cơ bản thì có thể coi hoạt động sản xuất tinh thần tương ứng với
hoạt động sản xuất ra các hệ giá trị và chuẩn mực xã hội tạo thành
các "khuôn mẫu hành vi" được đối tượng hoá trở thành hệ thống
các biểu tượng - thông tin xã hội. Đó cũng chính là một tiểu hệ thống văn
hoá.
- Đối với quan niệm xem văn
hoá như là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra,
thì ta có thể xem các giá trị tinh thần là cái làm nên tiểu hệ thống văn
hoá - trung tâm sản xuất ra hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội.
Trong đó đã hàm chứa toàn bộ những giá trị - chuẩn mực và các "khuôn
mẫu hành vi" của đời sống xã hội.
- Riêng với quan niệm xem văn
hoá như là một tiểu hệ thống đặc biệt của toàn bộ hệ thống xã hội thì
nhóm này cho rằng văn hoá chỉ là mặt biểu hiện của đời sống tinh thần.
Cho nên tiểu hệ thống xã hội đặc biệt này cũng được xem như là một tiểu hệ thống
văn hoá, chuyên sản xuất ra hệ thống các "khuôn mẫu hành vi" trong nó đã hàm chứa
toàn bộ các giá trị và chuẩn mực xã hội. Nó hình thành nên hệ
thống các biểu tượng thông tin - xã hội nhằm giúp cho con người hoàn thiện
các vai trò của mình trong đời sống - xã hội.
Như vậy, có thể nói rằng mọi cách
tiếp cận văn hoá cho dù có đứng ở góc cạnh nào để tìm hiểu về văn hoá đi chăng
nữa, thì bản chất của văn hoá cũng không ngoài hệ giá trị và chuẩn mực
xã hội, nó được "khuôn mẫu hoá" để trở thành những "khuôn
mẫu hành vi". Quá trình "khuôn
mẫu hoá" cũng là quá trình "biểu tượng hoá" trở
thành các "biểu tượng - thông tin xã hội" để tạo điều kiện cho
mỗi cá nhân nắm bắt được nhanh chóng các giá trị và chuẩn mực xã hội.
Qua đó giúp họ hoàn thiện và định hình nhân cách, để trở thành con người xã hội
- con người có văn hoá (Cultured man)
Do cách tiếp cận của bài viết này
xem văn hoá như là hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội, cho nên cần
phải làm rõ ý nghĩa của hai khái niệm: Biểu tượng và thông tin nhằm
làm sáng tỏ được các quan điểm nói trên .
L. White cho rằng: “Văn hoá
là cơ chế của các hiện tượng, vật thể, hành động, tư tưởng, cảm xúc. Cơ chế này
được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu tượng hoặc phụ thuộc vào các biểu tượng đó”
(10).
Quan điểm này cho rằng văn hoá là sản
phẩm của con người, cũng là dấu hiệu riêng chỉ có ở loài người. Đó chính là sự
hiểu biết, tình cảm và trí khôn của con người được biểu hiện ra bằng hệ thống
các biểu tượng nhằm phân biệt giữa người với vật. Một số nhà nhân học văn
hoá gọi con người là động vật biết sử dụng biểu tượng Homo- symbolling.
- Vậy biểu tượng là gì ? - Có thể hiểu biểu tượng là hình
ảnh tượng trưng được phô bày ra khiến người ta cảm nhận một giá trị trừu xuất
nào đó.
Từ điển La Rousse viết : “ Biểu
tượng là dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động, hay đồ vật biểu hiện một điều trừu
tượng , nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay điều gì đó”.
Biểu tượng bao gồm mọi dạng thức
hình ảnh tác động chủ yếu đến thính giác và thị giác gây
cho con người những rung động, cảm xúc về chúng theo nhiều mức độ khác nhau. Biểu
tượng có mặt hầu hết trong các biểu hiện của cuộc sống. Thực chất, cuộc sống
ngoài những nhận thức bằng tư duy lý tính mang tính logic, nhưng còn biết bao điều
không thể hiểu biết trực tiếp được . Nên người ta đã dùng một vật môi giới làm
trung gian để có thể hiểu được những điều khó hiểu. Ta gọi nó là biểu tượng
(Les Symboles) như: “Hoa cúc" biểu tượng cho sự thủy chung ; “Bồ
câu" biểu tượng của hoà bình ; “Rùa” biểu tượng của sự trường tồn
.” Hoa sen” biểu tượng cho sự thanh cao , “Cái bắt tay” biểu tượng
cho tình hữu nghị v...v...
Biểu tượng mở rộng trường ý thức trong mọi lĩnh vực và được biểu hiện bằng
nhiều hình thái khác nhau. Từ trong huyền thoại , tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội
truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán v.v... cho đến đời sống văn học nghệ
thuật, quảng cáo, mỹ thuật. Người ta ngày càng tìm cách “giải mã"
ngôn ngữ biểu tượng để mở rộng sự hiểu biết và đi sâu vào thế giới thông tin, cũng
là để làm chủ một “năng lượng tinh thần”
của một loại hình riêng biệt - siêu ngôn ngữ (super language).
Biểu tượng còn là một hình thái ngôn
ngữ đặc trưng của con người và là “Tế bào” của văn hoá
(L.White) cho nên, khi tìm hiểu về biểu tượng, cũng là đang tìm hiểu về văn
hoá. Thế giới văn hoá chính là thế giới của biểu tượng (11).
Quá trình tìm hiểu và nhận thức về
biểu tượng là quá trình nắm bắt và truyền đạt các thông tin . Qua đó con người
có thể nhận thức sâu sắc về đời sống của chính mình nhằm góp phần biến đổi một
cách lớn lao trong sự phát triển toàn diện về nhân cách của anh ta.Vì thế biểu
tượng có một chức năng chung nhất là sự điều tiết và định hướng
trở lại đời sống. Đó là tính văn hoá của biểu tượng.
Theo toàn thư quốc tế về phát triển
văn hoá (International Thesauruss on Cultural Development) Unesco đã định nghĩa
như sau: "Văn hoá là một tập hợp hệ thống các biểu tượng quy định thế
ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp được với
nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt"(12).
Cách tiếp cận văn hoá theo nghĩa hẹp
của Unesco không có sự đối lập hoàn toàn với cách tiếp cận văn hoá khác. Bởi ở
góc độ nào đó để nghiên cứu về văn hoá đi chăng nữa thì văn hoá không ngoài ý
nghĩa là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích luỹ được trong quá trình hoạt động
thực tiễn -lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn
mực xã hội. Hệ giá trị xã hội biểu hiện thông qua hệ thống
các biểu tượng. Biểu tượng là đơn vị cơ bản của văn
hoá, nó làm nên toàn bộ đời sống văn hoá và chi phối mọi hoạt động của con người
trong đời sống xã hội. Văn hoá được xem là hệ thống các biểu tượng -
thông tin xã hội.
Điểm then chốt không thể thiếu được
trong văn hoá là phải có sự truyền đạt thông tin. Nghĩa là phải có được sự cụ
thể hoá, phải có nguồn gốc lịch sử và được lịch sử chọn, đồng thời phải được
truyền bá và được vận hành trong lòng đời sống xã hội. Hệ thống văn hoá một mặt
là kết quả của hành vi, mặt khác là điều kiện của hành vi của con người .
- Về khái niệm thông tin (Information) đó là những hình ảnh
phản ánh về một sự vật hiện tượng nào đó có trong thế giới chung quanh, nói
khác đi nó là một dạng đặc biệt của sự vận động xã hội. Những thông tin được
truyền đi cho nhau biết thuộc mọi lĩnh vực của đời sống con người. Quá trình
này được thông qua một vật trung gian đó là các biểu tượng văn hoá. Các
biểu tượng luôn có năng lực chuyên chở các thông tin. Nó giúp cho mọi người
có thể nắm bắt nhanh những ý nghĩa những giá trị, chuẩn mực
xã hội, mà các phương tiện khác khó có thể thực hiện được
Bằng những kinh nghiệm đã trải qua
cùng với trình độ hiểu biết của bản thân mỗi con người mà họ có thể rút ra được
nhiều hơn về những thông tin còn chìm khuất trong lòng biểu tượng.
Bởi lẽ, biểu tượng cho phép mỗi cá nhân tiến hành sự suy nghĩ và phát huy nhiều
hơn về tính liên tưởng khi tiếp cận với nó. Biểu tượng có năng lực bày tỏ rất
nhiều về mặt ý nghĩa, vì bản thân nó mang nhiều đặc tính huyền ảo,
tính phức tạp và tính đa nghĩa với nhiều dạng vẻ khác nhau tương ứng
với sự từng trải và vốn sống của mỗi con người. Từ đó có thể có sự khác nhau
trong việc “giải mã ” các biểu tượng và sự khác nhau trong chiều nhận thức,
về sự tiếp nhận thông tin của mỗi cá nhân, của nhóm và cả cộng đồng dân tộc. Mỗi
dân tộc đều có quyền chọn lựa cho mình những thông tin mang tính giá
trị định hướng sao cho có sự phù hợp đối với truyền thống văn hoá và
quyền lợi của dân tộc mình.
Hệ thống biểu tượng và sự đa dạng của
các thông tin bao trùm hết cả đời sống văn hoá xã hội. Tuy nhiên vẫn phải tuân
thủ theo một chiều hướng nào đó, dường như có sự tổ chức, có sự sắp đặt theo một
khuôn mẫu định sẵn đã và đang tồn tại trong cộng đồng - xã hội. Cho nên,
mọi ứng xử, mọi suy nghĩ, mọi hành động xã hội đều bị chi phối bởi khuôn mẫu định
sẵn đó - Khuôn mẫu văn hoá truyền thống - nguyên tượng (Archetypes).
Thông tin văn hoá nói chung thì
không có sự hạn chế. Nhưng sự tiếp nhận hay bác bỏ một thông tin nào đó lại do
tất cả cộng đồng quyết định. Nó bao gồm những thông tin, những giá trị thuộc về
cái gì là , chân, thiện, mỹ, là quan trọng đối với sự tồn
vong hay sự phát triển của cả cộng đồng - xã hội.
Biểu tượng thông tin giống như là “một
đơn vị của kinh nghiệm". Nó có thể chỉ ra được bản chất của mỗi
giá trị mà nó chuyên chở. Bởi vì các loại hệ thống biểu tượng ít nhiều đều thuộc
tính lịch sử. Nó được rút ra từ các dữ kiện và những kinh nghiệm
có trong lịch sử. Tất cả mọi người đều có khả năng của sự từng trải , của kinh
nghiệm sống. Vì thế cũng có năng lực nhận thức, đánh giá và sáng tạo ra các biểu
tượng - thông tin xã hội (văn hoá).
Mỗi nền văn hoá đều có sự truyền đạt
các thông tin - những giá trị định hướng của toàn cộng đồng - xã hội nhằm thoả
mãn những nhu cầu, những khát vọng của con người. Nó được truyền tải thông qua
hệ thống các “biểu tượng thông tin" có trong mọi mặt của đời sống
xã hội. Thông tin có trong huyền thoại, trong nghi thức lễ hội, trong văn học
nghệ thuật và trong nhiều lĩnh vực khác. Phần nhiều thông tin chứa đựng trong lĩnh
vực văn hoá là thuộc về tư tưởng, nếp nghĩ, hành vi ứng xử của con người đối với
tự nhiên, môi trường và xã hội trong suốt chiều dài lịch sử, đã được đúc kết thành
những khuôn mẫu văn hoá - hệ giá trị và chuẩn mực văn
hoá, là do có sự trải qua biết bao kinh nghiệm của nhiều thế hệ để trở thành bản
lĩnh, tính cách của cả một cộng đồng - xã hội.
Chúng ta có thể hình dung ra được thế
giới thông tin có trong mọi nền văn hoá, bao gồm một số chủ đề chính như
sau:
- Những thông tin thiên về đời sống
tâm linh, đáp ứng được nhu cầu niềm tin và tín ngưỡng của con người. Những nhu
cầu mà con người đang khát vọng vươn tới để tự hoàn thiện chính bản thân mình,
nó được thể hiện trong tôn giáo, trong tín ngưỡng dân gian, trong nghi thức lễ
hội truyền thống .v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - tâm linh.
- Những thông tin về môi trường
sinh thái nhằm giúp con người có thể thích nghi với môi trường chung quanh. Đó
là sự hiểu biết về đời sống của động thực vật, về môi trường khí hậu và môi trường
thời tiết v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - sinh thái.
- Những thông tin về nhóm xã hội, về
quan hệ trong giao tiếp xã hội, về ứng xử giữa cá nhân với nhóm, về phong tục
và tập quán xã hội v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - lối sống.
- Những thông
tin về chính xã hội đó, về nguồn gốc xã hội, về dân tộc và các anh hùng trong lịch
sử, về các sự kiện lịch sử .v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - xã hội.
- Những thông tin về mối quan hệ giữa
cá nhân với xã hội, về quá trình hình thành nhân cách của con người trong đời sống
xã hội. Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - giáo dục.
- Những thông tin về tổ chức - quản
lý đời sống xã hội, về thiết chế - thể chế xã hội, về quyền hạn và nghĩa vụ xã
hội v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - chính trị.
- Những thông tin về cung và cầu
trong qui trình sản xuất và tiêu dùng, về các qui luật của giá cả và tiền tệ, về
sức phát triển của đời sống vật chất, về qui luật cạnh tranh trong kinh doanh
v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - kinh tế.
- Những thông tin về các giá trị
chuẩn mực xã hội giúp con người tiến bộ trong quan niệm về đúng và sai, phải và
trái, tốt và xấu v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - đạo đức.
- Những thông tin về đời sống thẩm
mỹ, về qui luật của cái đẹp, về xu hướng nghệ thuật, về thị hiếu thẩm mỹ v.v...
Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật.
- Những thông tin về dân số, về kế
hoạch hoá gia đình, về mối quan hệ trong đời sống gia đình, về hôn nhân và nuôi
dạy con cái, về dòng họ và huyết thống v.v... Nó thuộc về lĩnh vực văn hoá -
gia đình.
Mỗi lĩnh vực trên đây được truyền tải
bằng những thông tin chứa đựng đầy những quan niệm, những phương thức đánh
giá cùng với những phương án hành xử theo đúng các nguyên tắc, các chuẩn mực
và giá trị mà xã hội đã qui định cho từng lĩnh vực chuyên biệt. Tất cả đều
thông qua hệ thống các biểu tượng - các khuôn mẫu văn hoá. Nó tạo
thành các hệ thống thông tin của toàn xã hội, để điều tiết và định hướng
độ lệch chuẩn xã hội, giúp xã hội tồn tại và phát triển.
Qua phân tích trên đây ta thấy hướng tiếp cận
xem văn hoá như hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội, không hoàn
toàn có sự đối lập với các phương thức tiếp cận văn hoá khác, mà bản thân cách
tiếp cận này có hạt nhân hợp lý và có sự bổ sung thêm về một phương pháp nghiên
cứu nhằm hoàn thiện thêm một bước đối với các cách tiếp cận trước đó về đối tượng
nghiên cứu là văn hoá.
Theo định nghĩa của Unesco về văn
hoá, ta thấy yếu tố cốt lõi của văn hoá chính là hệ giá trị và chuẩn mực xã
hội. Song "giá trị" thuộc về thế giới của "ý niệm",
nằm chìm khuất trong đầu óc của con người nên khó có thể nắm bắt trực tiếp được
nó. Do vậy, để có thể hiểu được, nắm bắt được các giá trị, phải nhờ đến một vật
trung gian làm môi giới, ngoại hiện những "đối tượng vắng mặt"
này ra ngoài để nhận biết nó thật rõ ràng và cụ thể. Vật thay thế đó chính là hệ
thống các biểu tượng thông tin. Cho nên
khi nói văn hoá là hệ thống các biểu tượng - thông tin xã hội tức là hiểu
văn hoá bằng hướng tiếp cận với hình thái biểu hiện của nó, còn bản
chất cốt lõi làm nên đời sống của văn hoá vẫn là toàn bộ hệ giá trị
và chuẩn mực xã hội. Hệ thống biểu tượng thông tin chỉ là hình thức,
là phương tiện chuyên chở các hệ giá trị, là điều kiện tốt nhất để bộc lộ
ra các ý nghĩa còn chìm sâu trong nhận thức của con người. Có thể nói
các thành tố làm nên văn hoá, đó là tổ hợp "tam
vị nhất thể" gồm ba yếu tố : Giá trị - Chuẩn mực
- Biểu tượng thông tin.
Biểu tượng thông tin chính là mặt
biểu đạt của hệ giá trị và chuẩn mực, nó được biểu thị bằng toàn bộ vốn di sản
văn hoá và hệ ứng xử văn hoá của cộng đồng người. Toàn bộ tổ hợp này làm nên hệ
thống văn vật của một nền văn hoá chính thống.
Hệ biểu tượng - thông tin xã hội
hàm chứa trong lòng nó những giá trị xã hội truyền thống, đã được cả cộng đồng xã
hội chấp nhận là những thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của cả một
cộng đồng - dân tộc. Nhờ có hệ thống biểu tượng thông tin mới có thể
phân biệt được sự khác nhau về văn hoá giữa cộng đồng này với cộng đồng khác.
Ngoài ra nó còn có khả năng chi phối đời sống tâm lý và mọi hoạt động của những
con người sống trong cộng đồng xã hội đó.
Do vậy, nhìn từ
góc độ xã hội học để tiếp cận văn hoá ta có thể khẳng định:
Văn hoá là một tập hợp hệ thống các biểu tượng thông tin xã hội. Nó quy định thế ứng xử và giao tiếp của con người, đồng thời giúp cho một số đông người có thể liên kết với nhau trong một cộng đồng riêng biệt.
TS. Nguyễn Văn Hậu
Trường ĐH Văn hóa Hà Nội
&
Tài liệu tham khảo
(1)Trích dẫn từ Hoàng Vinh trong
"Khái niệm văn hoá" Học viện chính trị Quốc gia HCM 10/1996
(2) Trích dẫn từ Đoàn Văn Chúc
"Xã hội học văn hoá" NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997 trang 205 mục
14 (Jean Ladriere)
(3) Dẫn theo "Cơ sở xã hội học"
của NXB Tokyo 1990. Người dịch Hồ Hoàng Hoa, phòng XHHVH - Viện Khoa học xã hội
- Hà Nội.
(4) V. Dobrianop "Xã hội học
Mác - Lênin" Nhà xuất bản thông tin lý luận, Hà Nội. 1985.
(5) Đoàn Văn Chúc - "Xã hội học văn hoá" Mục 8 -
"Thì gian rỗi và hoạt động rỗi" trang 224.NXB Văn hoá - thông tin và
Viện Văn hoá xuất bản - Hà Nội 1997.
(6)Trích dẫn từ Đoàn Văn Chúc
"Xã hội học văn hoá" NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1997 trang 231, mục
8 bài "Thời gian rỗi và hoạt động rỗi"
(7) Khái niệm văn hoá "Tự điễn
Triết học" NXB chính trị Matxcơva, 1972.
(8) Trích dẫn từ Hoàng Vinh trong
"Khái niệm văn hoá" học viện chính trị Quốc gia HCM 10/1996
(9) Human Societies an Introduction
to Macrocociology International Edition 1995.
(10) Mượn trích dẫn của Hoàng Vinh
trong "Khái niệm văn hoá" Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
1/10/1996.
(11) L.White - The Science of
Culture : A. Study of Man an Civilization (
(12) Trích dẫn từ" "Mấy vấn
đề văn hoá và phát triển ở Việt
Lượt xem: 5476