Nghiên cứu và đào tạo văn hóa học ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội

(ĐHVH)- Từ đầu thập niên 80 đến nay, nhiều nhà khoa học về văn hóa đã luôn đề cập đến một bộ môn khoa học tương đối mới, đó là Văn hóa học. Ngành học này nghiên cứu: một là, văn hóa nói chung theo nghĩa rộng nhất của nó, hai là, các hiện tượng văn hóa riêng biệt theo nghĩa hẹp như: văn hóa lối sống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa tôn giáo, văn hóa gia đình, văn hóa kinh tế, văn hóa chính trị, văn hóa du lịch v.v.. Nói chung, Văn hóa học thuộc về ngành khoa học nhân văn mà đối tượng nghiên cứu của nó là toàn bộ lĩnh vực văn hóa tinh thần đang vận hành trong đời sống xã hội.




Văn hóa học được coi như là một ngành khoa học độc lập và là một môn học, nó cung cấp cái nhìn hết sức mới mẻ, toàn vẹn về mọi mặt trong lĩnh vực văn hóa - xã hội. Cùng với, Triết học, Sử học, Xã hội học, Nhân học phương pháp luận khoa học về văn hóa, Văn hóa học ở các nước Âu Mỹ và nước Nga ngày nay xuất hiện với tư cách là cơ sở của các khoa học nhân văn. Từ đó có sự nhìn nhận về con người, về đời sống hiện đại bằng cảm quan của văn hóa.

Chính nhờ vào những lý thuyết của văn hóa, đã cho chúng ta cách nhìn nhận về thế giới trong quá trình phát triển chung trên nguyên tắc “sự thống nhất trong đa dạng” về văn hóa, với tinh thần bao dung và nhân bản, khắc phục được cái gọi là “chủ thuyết trung tâm Châu Âu để vươn tới một nền văn minh đa cực trong sự phát triển của nền văn hóa tự thân, đậm đà  bản sắc dân tộc.

Như vậy, hiện nay văn hóa đã trở thành vấn đề cấp thiết trong cuộc sống, được sự quan tâm rất lớn của nhiều người, không chỉ trong lĩnh vực hoạt động thực tiễn mà còn trong giới nghiên cứu khoa học. Bởi vì, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như là nền tảng tinh thần, hạt nhân trung tâm quy định mọi ứng xử của con người và điều tiết mọi hoạt động xã hội. Nhưng trên thực tế tính hệ thống trong các chủ trương về văn hóa ở nước ta còn nhiều bất cập và trong nhận thức khoa học đối với lĩnh vực này vẫn còn nhiều điểm trắng. Điều đó càng có thể khẳng định được sự hình thành bộ môn Văn hóa học là cần thiết đối với sự nghiệp giáo dục văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc cùng với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở mỗi nước.

Tuy nhiên, so với sự tồn tại của bản thân văn hóa thì việc nghiên cứu văn hóa quả thật là chậm trễ. Điều dẫn đến việc chậm trễ này đã nói lên sự phức tạp của bản thân đối tượng nghiên cứu và đồng thời ngay trong nhận thức, người ta cũng chưa thấy được vai trò hết sức quan trọng của văn hóa đối với đời sống tinh thần của toàn xã hội.

Vào cuối thế kỷ XIX, lần đầu tiên khái niệm khoa học văn hóa  xuất hiện trong tiểu luận  “Những tư tưởng cơ bản về văn hóa học đại cương” (1851) của nhà lịch sử văn hóa người Đức– Gustav Klemm (1802 – 1867). Khái niệm văn hóa học được sử dụng trong sự đối lập với khoa học tự nhiên. Còn văn hóa học với tư cách là một ngành nghiên cứu có đối tượng xác định và phương pháp cụ thể thì mãi đến thế kỷ XX mới được quan tâm và đưa vào đào tạo tại các trường đại học ở Đức. Tại Mỹ, từ sau công trình The science of culture của L.White ra đời năm 1949, ngành Văn hóa học mới thực sự được khẳng định và thuật ngữ  Culturology  mới trở thành phổ biến.

Ở Việt Nam, từ khi cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh  (1938) được Quan Hải Tùng Thư xuất bản đã tạo nên mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của ngành Văn hóa học. Trước Đào Duy Anh cũng có một vài công  trình khảo cứu về văn hóa như “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính (1915) hay những bộ sách của Lê Quý Đôn ở thế kỷ XVIII cũng đã chạm đến lĩnh vực văn hóa, nhưng chỉ đến Đào Duy Anh, văn hóa mới được coi như đối tượng riêng biệt. Từ  Đào Duy Anh trở đi,  việc nghiên cứu văn hóa mới thật sự được quan tâm và đào sâu thật đáng kể bởi các học giả có uy tín ở trong và ngoài nước như: Jeanne Cusinnier, pierre Huard, Maurice Durand, L. Cadiere... Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Từ Chi, Trần Đình Hựu, Nguyễn Đăng Thục, Kim Định, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần v.v... Gần đây, có một vài công trình về văn hóa học lý thuyết ra đời như: “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” (1994) của GS. Phan Ngọc; “Văn hóa học đại cương Cơ sở văn hóa Việt Nam(1996) của GS. Trần Quốc Vượng ; “Cơ sở văn hóa Việt Nam(1997) của GS.TS KH. Trần Ngọc Thêm; “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta”(1999) của GS.TS. Hoàng Vinh..v.v…Điều đó đã dẫn đến việc nghiên cứu văn hóa ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhờ những kết quả nghiên cứu này mà việc giáo dục văn hóa ở nước ta mới nâng lên tầm giáo dục tự giác và mang tính khoa học.

Tuy nhiên, có một thực tế ở nước ta là các nhà nghiên cứu về văn hóa đều xuất thân từ các ngành khoa học khác nhau như Triết học, Sử học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học, Văn học, Nghệ thuật học... thậm chí là Toán học, Kinh tế học hoặc Tin học đã đi vào lĩnh vực Văn hóa học. Điều đó đã dẫn đến những bất đồng ý kiến trong nhận thức khoa học, cũng như  trong  quá trình tiếp cận một ngành học còn quá mới ở  nước ta. Nên về lâu dài, cần phải có một hệ thống đào tạo Văn hóa học thật chính qui và bài bản từ thấp đến cao, từ bậc Cử nhân đến Thạc sĩ Tiến sĩ.

Một bất cập nữa là, trong ngành học nào cũng phải cần đến khoa học cơ bản, đó là nền tảng lý luận, ph­ương pháp luậnphương pháp tiếp cận đối tượng trong quá trình nghiên cứu khoa học. Vậy mà hiện nay, việc đào tạo Văn hóa học vẫn còn đang lúng túng về mặt lý thuyết, thậm chí còn có quan điểm ngư­ợc lại cho rằng: “Không có cái gọi là Văn hóa học”,  mặc dù, đã có “mã số” đào tạo cho các cấp học (từ Cử nhân đến Tiến sĩ) của môn học này. Ngoài ra, ngay các công trình nghiên cứu khoa học và các luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ Văn hóa học cũng rất ít những đề tài đi vào lĩnh vực lý thuyết, một lĩnh vực quan trọng và cần thiết đối với chuyên ngành văn hóa. Bên cạnh đó, vấn đề nổi cộm  lên là chất lượng của các đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn Thạc sĩ và Tiến sĩ văn hóa học cũng còn yếu, tên đề tài còn chung chung và thường ít khi ứng dụng được vào đời sống thực tiễn. Nhiều đề tài có nội dung gần giống nhau hoặc lặp lại những vấn đề đã được nghiên cứu khá nhiều từ trước đó, điều này thể hiện rõ là các đề tài đã để mất đi tính sáng tạo và không có được dấu ấn cá nhân trong quá trình nghiên cứu khoa học.

Những vấn đề vừa nêu ở trên, cũng đã nói lên được sự cần thiết đối với việc cần phải xây dựng lại mục tiêu, chương trình đào tạo Văn hóa học ở nước ta và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, nhằm đào tạo những cán bộ ngành   văn hóa, nhưng vẫn có đủ tri thức về lĩnh vực Văn hóa học. 

1. Thực trạng nghiên cứu và đào tạo văn hóa học ở nước ta và ở Trường Đại học Văn hóa Hà- Nội

Nước ta đang trên đà phát triển và ở trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước– thời kỳ của nền kinh tế tri thức. Điều đó còn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực được đào tạo hết sức chính quy trong các nhà trường đại học. Cho nên, đòi hỏi quá trình giáo dục không chỉ dừng lại ở kỹ năng chuyên môn cao mà còn cần có một trình độ tri thức toàn diện và làm việc có hiệu quả.

Do đó, Nghị quyết TW 2 khoá VIII về khoa học và giáo dục đào tạo, Nghị quyết TW 5 khoá VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và luật giáo dục đều yêu cầu giáo dục đào tạo phải bảo đảm việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và văn hóa, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thế kỷ XXI.

Trong điều kiện đổi mới về giáo dục và đào tạo, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cũng đã tiến hành nhiều cuộc Hội thảo khoa học như: Hội thảo chuyên ngành Văn hóa học năm 2001, Hội thảo đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo chuyên ngành Văn hóa quần chúng, Bảo tàng, Thư viện thông tin, Phát hành xuất bản phẩm, Văn hóa du lịch, Dân tộc thiểu số vào năm 2003. Qua đó, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã thay đổi về những bất cập của chương trình đào tạo Cử nhân văn hoá trước đây, đồng thời đã từng bước    sửa đổi chương trình như sau:

 + Tính toàn diện: Chương trình phải được sửa đổi và bổ sung các môn học sao cho hợp lý ở cả hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

+ Tính khoa học thể hiện ở những môn học được sửa đổi và bổ sung phải mang tính khách quan đáp ứng chất lượng đào tạo.

+ Tính khả thi của nội dung chương trình phải phù hợp với

mục tiêu của ngành nghề đào tạo”                                                                                                   

+ Đưa bộ môn Văn hóa học - lý thuyết cơ bản về văn hóa vào chương trình chung, dạy cho các khoa chuyên  nghiệp toàn trường.

Có thể nói, cho đến nay Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Viện Văn hóa Thông tin là hai nơi đào tạo nghiệp vụ gần gũi với văn hóa học hơn cả. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội thành lập năm 1959, đầu tiên có tên gọi là Trường Cán bộ Văn hóa, rồi thành Trường Cao đẳng Nghiệp vụ Văn hóa và sau này là Trường Đại học Văn hóa- Hà Nội.

Trường Đại học Văn hóa- Hà Nội là cơ sở đào tạo cán bộ văn hóa bậc đại học và cao học ở phạm vi cả nước. Trong chương trình đào tạo chuyên ngành nghiệp vụ văn hóa của toàn trường, Văn hóa học phải là hệ thống kiến thức cơ bản về lý thuyết văn hóa, đồng thời là kiến thức cốt lõi cấu thành tiềm lực khoa học của sinh viên chuyên ngành văn hóa. Văn hóa học đương nhiên phải trở thành môn học “đặc thù” tạo thành bản sắc riêng của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội mà không gì có thể thay thế được. Nó cũng là chương trình đào tạo nguồn lực con người cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sau đây là một số mốc đánh dấu về sự phát triển của quá trình nghiên cứu và đào tạo văn hóa học của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

+ Từ năm 1978, Trường Cao đẳng Nghiệp vụ Văn hóa đã bước đầu giảng dạy những bộ môn nghiên cứu về văn hóa riêng cho các lớp Đại học Văn hóa quần chúng với tư cách là những môn Lý luận nghiệp vụ về văn hóa. Một trong những người đầu tiên của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội dành nhiều công sức và tâm huyết cho các môn học về văn hóa là nhà giáo Đoàn Văn Chúc. Tập giáo trình “Những bài giảng về văn hóa” (1982) của ông đã cung cấp cho sinh viên Văn hóa quần chúng những kiến thức lý luận cơ bản hết sức cần thiết đối với chuyên ngành nghiệp vụ văn hóa. Theo kiến giải của ông: “Văn hóa học là một khoa học liên ngành” và, “Để nghiên cứu các biểu thị của  văn hóa, người ta sử dụng nhiều môn khoa học khác nhau: Dân tộc chí, Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học, Sử học, Khảo cổ học, Ngôn ngữ học,... mà trước hết và chủ yếu là các môn: Dân tộc chí, Dân tộc học, Nhân học và Xã hội học. Ngoài ra là các môn phụ trợ, song không thể thiếu.” ( 1)

+ Năm 1982, Trường Cao đẳng Nghiệp vụ Văn hóa chính thức đổi tên thành Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Thời gian đó, trường có 4 khoa chuyên ngành nghiệp vụ văn hóa là: Khoa Bảo tồn bảo tàng, Phát hành sách, Văn hóa quần chúng Thư viện. Các khoa này, chỉ chủ yếu tập trung cho các môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, còn những môn học về khoa học xã hội và nhân văn cũng như những kiến thức lý luận cơ bản về văn hóa học lại không được chú trọng.

GS. TS Hoàng Vinh( Nguyên Phó Hiệu trưởng của trường) đưa ra nhận định: “Văn hóa học là những khoa học về văn hóa”. Đối với Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, theo ông, những môn học về văn hóa cần thiết phải được giảng dạy cho sinh viên toàn trường là Lý luận văn hóa (Triết học văn hóa), Lịch sử văn hóa, Xã hội học văn hóaĐường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những môn học này dùng làm cơ sở lý luận để đưa vào chương trình đào tạo bậc đại học của tất cả các Khoa đào tạo nghiệp vụ văn hóa của toàn trường.

+ Năm 1984, Viện Văn hóa Nghệ thuật (nay là Viện Văn hóa –Thông tin) dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hoá đã tổ chức liên tiếp hai cuộc Hội thảo Khoa học chuyên đề về Lý luận văn hóa (vào tháng 2 và tháng 5 - 1984). Trong hai cuộc hội thảo này, GS. Tô Duy Hợp đã trình bày trong bản tham luận khoa học của mình với nhan đề “Về khái niệm văn hóa học”. Theo kiến giải của ông: “Văn hóa học cụ thể định nghĩa sơ bộ là môn học văn hóa, lý luận về văn hóa, khoa học về văn hóa”“Đối tượng của Văn hóa học là văn hóa, ở mức hiện tượng luận, văn hóa là một đối tượng hết sức phức tạp, rất đa dạng và phong phú. Vì thế, cách tiếp cận thích hợp nhất là cách tiếp cận liên ngành khoa học để hoàn thiện Văn hóa học".

+ Năm 1987, ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội lại tổ chức Hội thảo Khoa học chuyên đề về “Nội dung chương trình Lý luận văn hóa bậc đại học”. Trong cuộc hội thảo này, nhiều kiến giải về Văn hóa học cho rằng: “Văn hóa học là một ngành khoa học độc lập, bao gồm nhiều bộ môn khoa học chuyên biệt về văn hóa”. Các môn học khác nhau cấu thành tiềm lực khoa học cho sinh viên các ngành nghiệp vụ văn hóa: Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa,  Lịch sử văn hóa Việt Nam,  Lịch sử văn hóa Đông Nam Á, Lịch sử văn hóa phương Đông, Lịch sử văn hóa phương Tây,  Xã hội học văn hóa,  Kinh tế học văn hóa, Quản lý văn hóa v.v...

+ Năm 1992, sau Đại hội  Đảng toàn quốc lần thứ VII, một lần nữa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội lại tổ chức hội thảo chuyên đề lần thứ hai về “Chương trình Lý luận văn hóa và Đường lối văn hóa” nhằm khẳng định lại “Văn hóa học là một khoa học liên ngành” được kế thừa từ Hội thảo khoa học năm 1987. Cũng vào thời điểm này, Tổ Văn hóa học đã chính thức được thành lập, bao gồm các bộ môn: Lý luận văn hoá và Đường lối văn hoá, Lịch sử các nền văn minh, Xã hội học văn hoá  nhưng  sau một năm hoạt động rồi giải thể.

+ Năm 1993, do yêu cầu nâng cao trình độ và chuẩn hoá cán bộ ngành văn hoá, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã được Bộ Giáo dục và đào tạo cho phép đào tạo Cao học ngành Văn hoá học. Điều đó cũng nói lên nhu cầu cấp thiết cần nâng cấp của một ngành học có vai trò tác động không nhỏ đối với sự phát triển của nhà trường.

+ Năm 1994, GS. Phan Ngọc lại nêu ra một kiến giải mới về văn hoá học trong cuốn sách “Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận  mới” – một phương pháp  tiếp cận theo kiểu “thao tác luận”. GS. Phan Ngọc muốn xây dựng một hệ thống lý thuyết văn hóa học giá trị thao tác, để có thể dựa vào đó mà tìm ra bản sắc văn hóa của các cộng đồng dân tộc. Từ đó, ông nhận định rằng: “Đã và đang xây dựng một khoa học về văn hoá Việt Nam”.   

+ Năm 1995, GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm đã trình bày kiến giải về Văn hoá học trong cuốn giáo trình “Cơ sở văn hoá Việt Nam”. Theo ông: “Văn hoá học là khoa học nghiên cứu về văn hoá”. Do văn hoá được xem xét từ nhiều hướng , cho nên Văn hoá học có thể được nghiên cứu và trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau, tạo nên nhiều môn, nhiều phân môn khác nhau. 

+ Năm 1996, GS. Trần Quốc Vượng trong cuốn “Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam” đã đề cập tới các tên gọi “Khoa Văn hoá học”,  “Bộ môn văn hoá học” và, ông khẳng định: “Khoa văn hoá học nói chung và môn Cơ sở văn hoá Việt Nam nói riêng có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong nhà trường, mà còn ở ngoài xã hội”. ( 2)

+ Trong xu thế phát triển văn hoá cũng như trước nhu cầu đổi mới về nghiên cứu văn hoá nói chung, vào năm 1996, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đã cho ra đời ngành đào tạo Văn hoá học bậc Cao học do Khoa Văn hoá XHCN đảm nhiệm, với chương trình  giảng dạy về Lý luận và Đường lối văn hoá - văn nghệ cho các ngành thuộc hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

+ Năm 1997, Viện Nghiên cứu Văn hoá - Nghệ thuật Việt Nam (nay là Viện hoá Thông tin) chính thức được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo Tiến sĩ Văn hoá học. Tuy nội dung đào tạo có hướng đi vào lĩnh vực văn hoá học, song mã số ngành học lại là chuyên ngành Lịch sử Nghệ thuật. Mãi cho đến 24/10/2002, Mã số ngành Văn hoá học mới được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đó cũng là một bất cập trong quá trình đào tạo Văn hoá học ở Việt Nam.

+ Năm 1999, Tổ Văn hoá học một lần nữa được thành lập trở lại để đáp ứng nhu cầu phát triển Văn hoá học trong giai đoạn mới. Song, do những yếu tố khách quan lẫn chủ quan, Tổ Văn hoá học chưa phát huy được hết vai trò của mình là: Nghiên cứu và giảng dạy Văn hoá học bậc Đại học cho các khoa đào tạo Nghiệp vụ văn hóa của trường - một lĩnh vực được coi là xương sống của ngành văn hoá nói chung và của Trường Đại học Văn hoá Hà Nội nói riêng.  

+ Cuối năm 1999, mặc dù trên phạm vi cả nước chưa có một trường nào thuộc ngành Văn hóa hình thành được Khoa đào tạo Cử nhân chuyên ngành Văn hóa học, thì Trường Đại học Dân lập Văn hiến Tp. Hồ Chí Minh đã nhanh chóng cho ra đời, lần đầu tiên một Khoa Văn hoá học hệ chính quy, có mục tiêu đào tạo Cử nhân Văn hoá học đạt trình độ kiến thức chuyên ngành về các lĩnh vực lý luận và phương pháp nghiên cứu văn hóa, lịch sử văn hoá và những lĩnh vực ứng dụng văn hoá học.

+ Năm 2000, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh cũng cho ra đời Khoa Văn hoá học, đào tạo Cử nhân chuyên ngành Văn hoá học. Mục tiêu đào tạo của khoa này cũng gần giống với mục tiêu đào tạo Cử nhân Văn hóa học của Trường Đại học Dân lập Văn hiến Tp. Hồ Chí Minh.

2. Một vài nhận định đối với việc nghiên cứu và đào tạo Văn hoá học bậc đại học ở Trường Đại học Văn hóa Hà- Nội

       a.  Về nghiên cứu văn hóa học nói chung

      Nhìn chung, những quan điểm về văn hoá học hiện nay ở nước ta còn có nhiều sự khác nhau khi lý giải, cũng như trong vận dụng giải quyết những vấn đề cụ thể của văn hoá học.

+ Về đối tượng nghiên cứu: Có sự thống nhất với nhau rằng “Văn hoá học là các khoa học về văn hoá”. Nhưng văn hoá là gì thì còn có rất nhiều ý kiến khác nhau: văn hoá là vật thể hay là quan hệ,giá trị nhận thức hay là hành vi ứng xử, giá trị vật chất và tinh thần hay chỉ là giá trị tinh thần v.v... là do quan niệm về văn hoá được trình bày ở nhiều góc độ khoa học khác nhau: là bản thể luận hay hiện tượng luận, tuyệt đối luận hay tương đối luận v.v... Về khái niệm văn hoá thì theo định nghĩa rộng hay định nghĩa hẹp, định nghĩa quy ước hay định nghĩa thao tác...vv.

+ Về phương pháp nghiên cứu: Có nhiều tranh cãi về phương pháp tiếp cận để nghiên cứu văn hóa, là do có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, từ cách tiếp cận theo tinh thần luận, thao tác luận, ... cho đến cấu trúc luận hay tiến hóa luận v.v... để tìm hiểu một lĩnh vực hết sức phức tạp, đa nghĩa, đa chức năng, tồn tại trong đời sống xã hội – văn hóa.  Nhìn chung, văn hoá có nhiều cách hiểu khác nhau và nhiều hướng tiếp cận trong nghiên cứu văn hóa khác nhau, nhưng những ý kiến của các nhà khoa học đều có sự đồng thuận cho rằng: Văn hoá là cái làm phân biệt giữa người và động vật, và là cái đặc hữu chỉ có ở xã hội loài người. Văn hoá không kế thừa theo con đường sinh học, mà phải thông qua học tập. Tiếp theo, họ cũng thừa nhận rằng, văn hóa trực tiếp gắn liền với các tư tưởng, tồn tại và truyền đạt dưới hình thức ký hiệu – biểu tượng. (L. Iônhin - Nga )

Văn hoá là một lĩnh vực hết sức phức tạp, song nó vẫn được biểu hiện ra dưới hình thức ký hiệu- biểu tượng, cho nên có thể hiểu được các giá trị, chuẩn mực cùng những ý nghĩa hàm chứa trong lòng của nó. Văn hoá học là những khoa học về văn hoá, đương nhiên phương pháp tiếp cận để nghiên cứu văn hoá phải là phương pháp tiếp cận liên ngành.

b. Về đào tạo Văn hóa học bậc Đại học ở Trường Đại học Văn hóa Hà-Nội  hiện nay

Trong suốt một thời gian dài từ 1978 đến nay (30 năm), về mặt hình thức, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã phát triển lên một bước, có sự nhảy vọt về đào tạo văn hoá ( đã có Cao học Văn hóa học) Xong, lâu nay, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội vẫn giữ nguyên đặc thù theo định hướng đào tạo cán bộ nghiệp vụ cho ngành văn hoá như khi còn là Trường Cao đẳng Nghiệp vụ Văn hoá trước đây, cho nên không quan tâm nhiều đến các môn học thuộc lý thuyết cơ bản về văn hoá học. Quan niệm văn hoá chỉ dừng lại ở nghĩa hẹp cho từng ngành nghiệp vụ văn hoá như: Bảo tàng, Thư viện thông tin, Phát hành xuất bản phẩm, Quản lý  văn hoá, Văn hoá du lịch, Văn hoá dân tộc thiểu số.v.v.. Nó chưa vượt ra khỏi những yêu cầu nghiệp vụ chuyên ngành văn hoá và chưa nâng lên được cấp độ lý thuyết cơ bản về văn hoá học. Điều đó đã làm mất đi vai trò và tầm vóc của trường đại học văn hoá Hà Nội – trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học về văn hóa, cho dù trường đã tồn tại hẳn một Khoa Cao học Văn hóa tại đây. Từ thực trạng trên cho thấy, đến lúc có một nhu cầu cấp thiết cần phải đặt ra là, văn hóa học không chỉ là một ngành họchệ thống lý thuyết cơ bản về Văn hóa học dạy cho tất cả các khoa đào tạo nghiệp vụ văn hóa toàn trường, mà còn là một ngành học độc lập, đủ sức hình thành nên một Khoa Văn hóa học chuyên giảng dạy và đào tạo Cử nhân Văn hóa học cho cả nước, không thể tồn tại cách đào tạo ngược như trước đây ( Đào tạo Cao học văn hóa học nhưng không có Cử nhân văn hóa học ).

Trong thời gian trước đây, đã có nhiều hội nghị khoa học cấp Bộ, Vụ, Viện và Trường bàn về Ngành văn hóa học hết sức sôi nổi, với mong muốn  sẽ có một cuộc đổi mới toàn diện về mục tiêu, chương trình, giáo trình đào tạo văn hóa học thật triệt để và khoa học. Nhìn chung, tất cả mọi người đều nhận thức được rằng Văn hóa học là môn học trọng tâm, là phương pháp luận khoa học của các Khoa đào tạo nghiệp vụ văn hóa. Có thể nói, nó là xương sống, là nền tảng  tri thức của một trường đại học thuộc ngành văn hóa. Nếu như không có được một hệ thống lý thuyết cơ bản về Văn hóa học thì vị trí và tầm vóc của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội sẽ tụt xuống ngang tầm một Trường Cao đẳng Nghiệp vụ Văn hóa như trước đây.

         Sau thời gian dài chuẩn bị về tổ chức và soạn thảo chương trình đào tạo chuyên ngành Văn hóa học bậc đại học (10 năm), ngày 15/ 12/ 2008 Khoa Cử nhân Văn hóa học đã chính thức ra đời tại trường Đại học Văn hóa- Hà Nội. Có thể nói đó là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc sau gần 30 năm kể từ ngày trường Cao đẳng lý luận nghiệp vụ văn hoá được nâng lên thành trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Song song với quá trình chuẩn bị sự ra đời của Khoa Văn hóa học bậc đại học, thì chương trình Văn hóa học bậc đại học cũng được đưa vảo giảng dạy cho tất cả các khoa trong toàn trường.

 Chương trình đào tạo Cử nhân Văn hóa học được chuẩn bị biên soạn khá công phu, mang tính hệ thống. Nó được thiết kế theo hướng phân chia Văn hóa học thành hai bộ phận: Văn hóa học lý thuyếtVăn hóa học ứng dụng.

Văn hóa học Lý thuyết nghiên cứu văn hóa trên phương diện nhận thức Lý luậnLịch sử văn hóa, tạo lập hệ thống các phạm trù và các phương pháp nghiên cứu. Đồng thời xây dựng phần Văn hóa học ứng dụng nhằm hướng tới việc xây dựng các kiến thức cơ bản về văn hóa vào mục đích dự báo, lập dự án văn hóa, tổ chức các Sự kiện văn hóa và biên đạo Lễ hội .

 3. Mục tiêu và giải pháp đào tạo Văn hoá học bậc đại học của trường đại học văn hoá- Hà Nội.

a. Về mục tiêu đào tạo:

Chương trình đào tạo Cử nhân ngành văn hóa học của trường Đại học văn hóa Hà Nội với mục tiêu đào tạo những người có trình độ chuyên sâu về văn hóa học lý thuyết Văn hóa học ứng dụng. Người tốt nghiệp Cử nhân văn hóa học (khác với các khoa đào tạo Nghiệp vụ văn hóa), có khả năng trở thành những cán bộ văn hóa trong các lĩnh vực như sau:

+ Cán bộ nghiên cứu về lĩnh vực Văn hóa học tại các Viện, Cục, Vụ, Bộ văn hóa hoặc các Trung tâm nghiên cứu khoa học Xã hội và Nhân văn.

          + Làm cán bộ giảng dạy về Văn hóa học tại các trường đại học, cao đẳng, các trường Nghiệp vụ Văn hóa Thông tin, các trường Nghiệp vụ thuộc các tổ chức xã hội khác như công đoàn, thanh niên, phụ nữ, công tác xã hội v.v.. hoặc cá tổ chức chính  phủ hay phi chính phủ và nước ngoài.

          + Đào tạo tiếp ở trình độ cao hơn để nhận  học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ văn hóa học, trở thành những chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo văn hóa học (Đối với những người có năng lực thật sự).  

          +  Nâng cao trình độ về Văn hóa học ứng dụng để có thể hoạt động tốt  trong các tổ chức xã hội mang tính chuyên trách như : Tổ chức các sự kiện văn hoá hoặc có thể Biên đạo và Dàn dựng các Kịch bản Lễ hội. 

b. Về đối tượng đào tạo: 

Chuyên ngành đào tạo Cử nhân văn hóa học của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội có thể tiếp nhận các đối tượng sau:

+ Những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học có nguyện vọng trở thành cán bộ văn hóa, đi sâu tìm hiểu về văn hóa học.

            + Những cán bộ đang công tác trong ngành Văn hóa Thông tin có nhu cầu bổ xung, hoàn tất trình độ đại họcchuẩn hoá cán bộ.

             + Những người đã có một hoặc trên một bằng đại học đang làm việc trong ngành văn hóa muốn bổ túc chuyên môn hoặc có nhu cầu hiểu biết về Văn hóa học.

            + Những Việt kiều hoặc người nước ngoài có nhu cầu tìm hiểu về Văn hóa học.

c. Về giải pháp trong quá trình đào tạo 

* Về lý thuyết

+ Nhận thức trong nghiên cứu: Tránh lối tư duy bảo thủ trong quá trình nghiên cứu văn hóa dẫn đến nhận định rằng, các quan điểm đã có trước đây là đúng hơn cả, từ đó xa rời những quan niệm văn hóa tiên tiến đang được thế giới công nhận. Nên bám sát những quan niệm, định nghĩa về văn hóa (nghĩa rộng) như Văn hóa vật thể/phi vật thể (tangible/intangible) của UNESCO. Trong quá trình hội nhập văn hóa, cần phải biết tiếp thu cái mới và kế thừa cái cũ, sao cho vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc mà vẫn tiếp nhận các quan điểm văn hóa tiến bộ của nhân loại. Đồng thời, làm rõ các khái niệm về Văn hiến, Văn minh, Văn hóaVăn vật, tránh sự nhầm lẫn các khái niệm này. Ngoài ra cần xác định rõ, Văn hóa  thuộc về nền tảng tinh thần khác với Văn minh  thuộc về nền tảng vật chất.

+ Chú trọng đến quan điểm hiện thời của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo đường lối phát triển của văn hóa, thông qua các nghị quyết TW gần đây (Đại hội lần thứ VIII và X của Đảng). Từ đó, làm rõ được quan niệm về văn hóa trong giai đoạn hiện nay:Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”

+ Cách tiếp cận – phương pháp (Approach methods)

          -  Có cái nhìn tổng thể theo phương pháp tiếp cận hệ thống trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực Văn hóa học.

          - Theo phương pháp tiếp cận xuyên/ liên ngành (một phương pháp mới xuất hiện gần đây ở nước ta)

           -  Có cách nghiên cứu liên văn hóa theo phương châm thống nhất trong đa dạng. Tránh quan điểm “Chủ thuyết trung tâm Châu Âu” về văn hóa.

           -  Có cái nhìn biện chứng trên hai trục lịch đại ( Lịch sử văn hóa)đồng đại (Xã hội học văn hóa). Ngoài ra, không được xa rời cách   duy logic về mối liên hệ giữa văn hóa, con ngườixã hội ( Triết học văn hóa) trong nghiên cứu Văn hóa học. Cũng không quên vai trò của chủ thể văn hóa (con người) trong quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa (Nhân học văn hóa). 

* Về thực hành

Cần phải đi điền dã để tiếp cận thực tế (practice) với cái nhìn “Nhân học văn hóa - xã hội”. Việc đi điền dã thực địa là điều kiện giúp cho người nghiên cứu có được nhãn quan thực tiễn, qua đó, bằng các phương pháp thao tác khoa học trong nghiên cứu như: phỏng vấn sâu, điều tra bằng bảng hỏi (điều tra xã hội học), quan sát, lấy tư liệu hình ảnh, phim ảnh v.v... để giúp cho công trình nghiên cứu mang tính khách quan hơn và xa rời lối nghiên cứu tư biện – siêu hình.

   4. Một vài điều cần diễn giải về chuyên ngành đào tạo văn hóa học bậc Đại học của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội  

a. Chuyên ngành đào tạo Văn hóa học bậc đại học của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội chính là kết quả của quá trình nghiên cứu và kế thừa những gì đã có từ trước được cập nhật, thay đổi cho phù hợp với mục tiêu cải tiến chương trình đào tạo cử nhân văn hóa của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời trình ra được cơ cấu của Văn hóa học bao gồm ba bộ phận:

·     Triết học văn hóa(văn hóa học đại cương)

·     Lịch sử văn hóa

·     Các khoa học về văn hóa

     -  Nhân học văn hóa

            -  Xã hội học văn hóa

            -  Ký hiệu học văn hóa v..v.

Cơ cấu môn học Văn hóa học có sự tương ứng với ba nhân tố cốt lõi cấu thành nên đời sống xã hội, đó là: văn hóa - xã hội - con người. Ba bộ phận này tuy là ba nhưng lại là một, bởi đó là một phức thể thống nhất, toàn vẹn không gì chia cắt được. Cho nên, trong quá trình nghiên cứu nếu chỉ tập trung tìm hiểu mỗi một lĩnh vực mà không chịu quan tâm đến hai lĩnh vực kia, thì tất yếu sẽ dẫn đến sự phá vỡ hệ thống nghiên cứu. Chắc chắn rằng, văn hóa học luôn là một khoa học liên ngành mà ba yếu tố con người, xã hộivăn hóa vẫn là ba trụ cột vững chắc làm nền tảng trong quá trình nghiên cứu.

Dưới đây là những môn học cốt lõi tạo nên cơ cấu Văn hóa học, bao gồm:

* Văn hóa học – khoa học nghiên cứu về văn hóa như là đối tượng của các giải thích mang tính lý luận.

Triết học văn hóa( Văn hóa học đại cương): Như phương pháp luận để thấu hiểu bản chất siêu hình của văn hóa và để hình thành nên thế giới quan về cách hiểu văn hóa.

Xã hội học văn hóa: Nghiên cứu cấu trúc và các dạng thức hoạt động của văn hóa trong đời sống xã hội, cũng được hiểu là áp dụng xã hội học để giải thích về sự phát triển của văn hóa, xem văn hóa như một mảng của tồn tại xã hội dưới góc độ hoạt động của nó trong hệ thống các quan hệ xã hội.

Nhân học văn hóa: Phân tích những mối liên hệ của văn hóa với những đặc điểm thực chất của con người, tâm lý, trí tuệ của họ, tức là nghiên cứu con người dưới góc độ văn hóa.

* Văn hóa học – khoa học về các biểu hiện cụ thể, các nét đặc thù của các nền văn hóa trong lịch sử

Lịch sử văn hóa thế giới: Bên cạnh những môn học tạo thành khoa học nghiên cứu về văn  hóa như là một đối tượng của các kiến giải mang tính lý luận, Văn hóa học còn được nhìn dưới góc độ nghiên cứu về các biểu hiện cụ thể, các nét đặc thù của các nền văn hóa có trong lịch sử. Có thể nói, cơ sở của văn hóa học là Lịch sử văn hóa (Thế giới và Việt Nam) bởi quá trình phát triển văn hóa luôn gắn liền với quá trình phát triển lịch sử.

 Lịch sử văn hóa Việt Nam: Để nghiên cứu lĩnh vực văn hóa Việt Nam trong lịch sử phải có môn học Lịch sử văn hóa Việt Nam. Môn học này sẽ nghiên cứu các biểu hiện mang tính bản chất nhất của con người Việt Nam, các nét đặc trưng của văn hóa dân tộc và các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay.

* Văn hóa học -  khoa học về các lĩnh vực chuyên biệt có trong  đời sống xã hội.

Bao gồm các môn học như :Ký hiệu học văn hóa, Tâm lý học văn hóa , Kinh tế học văn hóa, Phân tâm học văn hóa,  Nghệ thuật học văn hóa, Tôn giáo học văn hóa, Chính trị học văn hóa v..v…  Môn học Đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam được đưa vào “Chương trình đào tạo ngành Văn hóa học bậc đại học ở Trường Đại học Văn hóa Hà Nội”. 

Ngoài ra phần Văn hóa học ứng dụng cũng gíup cho các Cử nhân văn hóa học có thể tổ chức các sự kiện văn hóa cũng như có đủ trình độ biên đạo các kịch bản Lễ hội Truyền  thống và hiện đại. 

Nhìn chung, văn hóa là một lĩnh vực phức tạp, cho nên để có thể hiểu một cách đầy đủ về Văn  học cần phải có cái nhìn hệ thống- tổng thể (System Analysis), với cách tiếp cận liên ngành – xuyên ngành kết hợp cả lịch đại và đồng đại. Vậy, Văn hóa học là môn học tổng hợp về văn hóa, phải được xây dựng về lý thuyết (Theories),về phương pháp (Methods),về thực tiễn (Practice) như những phần đã trình bày ở trên.

          Viễn cảnh xã hội của Văn hóa học là cuộc cách mạng trong nhận thức về vị trí, vai trò của văn hoá là động lực trong việc thúc đẩy sự  phát triển và điều tiết đời sống tinh thần của xã hội. Văn hoá học ứng dụng sẽ góp phần làm thay đổi toàn bộ quy trình “sản xuất tinh thần”: sản xuất - bảo quản - phân phối - trao đổi - hưởng thụ các sản phẩm văn hoá mang tính biểu tựơng. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi trong mọi lĩnh vực dự báo, lập dự án về quá trình quản lýtổ chức đời sống văn hóa - xã hội. Sự phát triển Văn hóa học cũng là quá trình tiếp cận những phương pháp mới trong việc nghiên cứu về lĩnh vực văn hoá tinh thần, nhằm xã hội hóavăn hóa hóa nhân cách con người, đồng thời các phương pháp ứng dụng trong Văn hoá học cũng là để tái sản xuất xã hội một cách có hiệu quả cũng như bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

(1). Dẫn theo Đoàn Văn Chúc trong “Văn hóa học”, Viện Văn hóa, Nxb

         Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997, trang 7.

(2). Dẫn theo Trần Quốc Vượng trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1998, trang 6.


Bài: TS. Nguyễn Văn Hậu

 

 

 
 

Lượt xem: 6926

Lên đầu trang

Tiêu điểm
Xem nhiều
 

CÁC TIN TRƯỚC

CÁC TIN TIẾP THEO

 


Loading
Liên kết website
Thống kê truy cập
Đang truy cập : 208
Lượt truy cập : 6184085
Locations of visitors to this page
 
Trường Đại học Văn Hoá Hà Nội - Hanoi University Of Culture
Địa chỉ: 418 Đường La Thành - Quận Đống Đa - Hà Nội - Việt Nam
Tel:(84-4)38511971 * Fax:(84-4)35141629 * Email daihocvanhoahanoi@huc.edu.vn