Hoàng Kế Viêm và quan hệ với Lưu Vĩnh Phúc (Phần II)(VNN)- Quân Cờ Đen là
lính đánh thuê dưới quyền bài binh bố trận của Hoàng Kế Viêm
vậy. Vai trò của quân Cờ Đen được ghi nhận trong lịch sử cũng
là để phản ánh một sự thật đau lòng: quân lính nhà Nguyễn
khi đó vô cùng bạc nhược trước quân Pháp...
II- Lưu Vĩnh Phúc và cờ đen tại Việt Nam
Lưu Vĩnh Phúc - Nguồn ảnh: wikipedia.org Sau khi Ngô Lăng Vân bị giết (1863), có thời gian Lưu Vĩnh Phúc đem bộ thuộc của mình đi cướp nhiều nơi, sau mới trở lại với Ngô Côn (con trai và là người kế nghiệp Ngô Lăng Vân). Lưu Vĩnh Phúc xin với Ngô Côn cho tiến hành các cuộc viễn chinh cướp bóc bên Đại Nam, cũng là để tránh sức ép của nhà Thanh. Dẫn theo 200 thuộc hạ thân tín, dùng một lá cờ màu đen làm kỳ hiệu, năm 1865, Lưu Vĩnh Phúc vượt biên giới vào Đại Nam. Vừa đi vừa tuyển thêm quân từ các toán thổ phỉ khác, đến gần Sơn Tây, quân Cờ Đen đã lên tới 500 và dừng lại lập doanh trại. Xung đột vũ trang đã nổ ra, quân Cờ Đen đánh bại cuộc tấn công của thổ dân, đồng thời giết chết một thủ lĩnh người Mông. Thủ lĩnh này chống đối nhà Nguyễn, nên nhân cơ hội nhà Nguyễn ban cho họ Lưu chức vị Cửu phẩm bách hộ để tiếp tục công việc bình định vùng này. Năm 1868, Lưu Vĩnh Phúc quay ra tranh giành ở Lào Cai (tức châu Bảo Thắng) - món mồi béo bở đang nằm trong tay các thương gia Quảng Đông. Quân Cờ Đen tự tiện thu thuế, khai khoáng, cướp bóc khắp nơi, quan quân nhà Nguyễn không ngăn được. Biết được tin về những thắng lợi của Lưu Vĩnh Phúc, những toán quân còn lại của Ngô Lăng Vân theo Hoàng Sùng Anh (cháu Ngô Lăng Vân) lập thành quân Cờ Vàng, tràn qua biên giới chiếm Hà Giang. Quân Cờ Vàng đông hơn quân Cờ Đen gấp 2-3 lần. Nhưng Hà Giang không phải là nơi có nhiều lợi lộc nên xung đột giữa Cờ Đen và Cờ Vàng bùng nổ. Năm 1869, quân Cờ Đen đánh tan quân Cờ Vàng tại Lào Cai, rồi truy quét Cờ Vàng đến tận Hà Giang. Quân Cờ Vàng phải tháo chạy khỏi Hà Giang nhưng rồi lại tiếp tục kiểm soát một vùng rộng lớn giữa Lào Cai và Sơn Tây.
Theo đó Dupuis sẽ chở vũ khí, muối, gạo... theo sông Hồng vào Vân Nam, phía Trung Quốc sẽ nhượng cho Duipuis quyền lợi khai mỏ đồng mỏ thiếc ở Vân Nam. Việc này không được triều đình Đại Nam chấp thuận. Để giải quyết tranh chấp, chính quyền Pháp tại Nam Kỳ cử đại úy Francis Garnier ra Hà Nội, nhưng Garnier không những không làm trung gian đàm phán mà còn cùng với người của Dupuis (gồm cả quân Cờ Vàng) tấn công thành Hà Nội ngày 19/11/1873. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng chết, xung đột Bắc Kỳ bùng nổ. Tiếp theo, Garnier cho quân bình định châu thổ sông Hồng. Trong 3 tuần, toàn bộ 4 tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định với 2 triệu dân đã rơi vào tay quân Pháp với chỉ khoảng 180 người, do viên đại úy hải quân chưa tới 35 tuổi chỉ huy. Tại thành Ninh Bình, 1.700 binh lính đã hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có 7 người! Giữa tháng 12, Garnier đã quay lại Hà Nội điều hành công việc hành chính. Garnier tổ chức các đội dân quân ở những làng công giáo và tự chọn lựa quan lại. Triều đình nhà Nguyễn hết sức tức giận lệnh cho đoàn sứ Đại Nam đang ở Sài Gòn phản kháng hành động chiếm thành của Garnier, yêu cầu rút quân ra khỏi thành Hà Nội, đồng thời đưa 1.000 quân từ Huế và Nghệ An ra Bắc tăng cường chống trả. Triều đình lệnh đóng cọc xuống các lòng sông thông với sông Hồng để ngăn chặn tàu Pháp. Vua Tự Đức cũng sai người ra Hà Nội điều đình với Garnier. Ngoài ra triều đình phong cho phò mã Hoàng Kế Viêm làm Tiết chế Bắc kỳ quân vụ, chuẩn bị trả đũa. Hoàng Kế Viêm là chỉ huy cao cấp nhất tại Bắc Kỳ, cũng là cấp trên trực tiếp của Lưu Vĩnh Phúc, nên ông cho gọi họ Lưu từ Hưng Hóa về Sơn Tây làm tiền phong để đánh Pháp. Hoàng Kế Viêm biết quân
Đại Nam đang hoang mang nên khích lệ quân Cờ Đen bằng cách hứa hẹn
thưởng rất nhiều vàng cho mỗi tên Pháp bị giết, số lượng sẽ tăng lên
theo cấp bậc. Ngày 18/12/1873, quân Cờ Đen về Hà Nội và lập trại cách
chừng 10-12 dặm. Ngày 21, khi nghe tin quân Cờ Đen đến gần cửa tây
thành Hà Nội, Garnier lập tức lên mặt thành cho pháo khai hỏa. Sau
nửa giờ, quân Đại Nam và quân Cờ Đen (khoảng 500-600 quân cùng voi
chiến) phải rút chạy. Garnier lập tức tiến ra truy đuổi cùng với
18 lính Pháp và chừng một trung đội lính bản xứ, nhưng chưa đi khỏi
thành bao xa thì pháo dã chiến bị sa lầy, Garnier bị một toán quân Cờ
Đen mai phục xô ra đâm chết tại Ô Cầu Giấy. Cái chết của Garnier đã
đặt dấu chấm hết cho cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất của
Pháp.
Được pháo yểm trợ, quân Pháp ồ ạt tràn lên. Tổng đốc Hoàng Diệu hạ lệnh cố thủ, nhưng chỉ sau hai tiếng giao tranh, thành Hà Nội lại một lần nữa rơi vào tay Pháp, Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử. Quân Pháp chỉ có 4 người bị thương. Để đối phó lại, Hoàng Kế Viêm cho gọi Lưu Vĩnh Phúc từ Quảng Tây về bàn kế hoạch chống trả. Tuy nhiên họ Lưu phàn nàn về thái độ đãi ngộ và đưa ra những yêu sách về cung cấp lương thảo, tiền bạc rồi từ chối phối hợp tác chiến. Tháng 2 năm 1883, sau khi nhận được 750 quân tăng viện, Rivière cho tiến quân chiếm cảng Hòn Gai và khu mỏ than. Trong thời gian đó, Hoàng Kế Viêm cũng tăng cường phòng thủ thành Nam Định để ngăn quân Pháp, đồng thời tuyển mộ thêm 500 lính đánh thuê người Tàu để lấp vào chỗ trống của quân Cờ Đen. Tới 27 tháng 3, Rivière cùng 800 quân, 8 pháo thuyền và một số tàu bè khác cùng một phân đội lính Nam Kỳ hỗ trợ đánh thành Nam Định. Quân Nam ngoan cường cố thủ, nhưng chỉ đến trưa thì quân Pháp hạ được thành. Quân Pháp chỉ có 3 người bị thương, một người trong đó tử vong, nhưng cũng đủ làm Rivière nổi giận, hạ lệnh treo cổ tất cả 50 lính đánh thuê người Tàu rơi vào tay mình. Mất Nam Định, quân Hoàng Kế Viêm trở nên tuyệt vọng, thế nhưng tới tháng 4 Lưu Vĩnh Phúc đã đồng ý quay lại đánh Pháp. Đồng thời, nhà Thanh cũng sai quân sang đóng ở Bắc Ninh và ở Sơn Tây, cùng với quân của Bố chính Quảng Tây sang tiếp ứng. Quân Nam chuyển từ thế thủ sang thế công. Quân Cờ Đen tiến về đóng đại bản doanh ở phủ Hoài Đức, đồng thời Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản đem binh về đóng ở Giốc Gạch, thuộc Gia Lâm chuẩn bị sang đánh Hà Nội. Để khiêu khích quân Pháp, quân Cờ Đen đốt phá các khu giáo dân, lợi dụng đêm tối dùng pháo đặt trên lưng voi bắn vào Hà Nội. Ngày 10 tháng 5, gửi chiến thư thách Rivière ra đánh. Rivière trong khi đó đang tích cực chuẩn bị để đánh thành Sơn Tây, thấy quân Nam chuẩn bị tiến công, liền ra lệnh tiến quân đánh phủ Hoài Đức. Ngày 19 tháng 5, khi
Rivière dẫn 500 quân ra đến Cầu Giấy thì quân Cờ Đen đổ ra từ khắp các
làng xung quanh để cắt đứt hậu quân Pháp. Bị vây, quân Pháp co cụm lại,
nên càng dễ bị bắn. Một khẩu pháo dã chiến của Pháp bị rơi vào tay
quân Cờ Đen. Rivière dẫn một toán quân xông ra để chiếm lại khẩu pháo,
trong lúc hỗn loạn đã bị trúng đạn. Quân Pháp mất chỉ huy, hoảng loạn
rút chạy về thành. Trong khi tại Bắc Kỳ,
các quan lại Việt Nam lúng túng chưa biết đối phó với Pháp bằng cách
nào, thì tình hình tại triều đình Trung Hoa rất náo động. Nhà Thanh,
nhất là chính quyền Lưỡng Quảng, hết sức lo ngại trước tình hình
Pháp đánh chiếm Hà Nội, gián tiếp uy hiếp an ninh biên thùy. Lấy cớ
tiễu phỉ, quân Vân Nam và Lưỡng Quảng được điều động tiến sát về biên
giới, sẵn sàng tiến sang Bắc Kỳ. Người Pháp cũng lo ngại việc nhà Thanh
định can thiệp vào cuộc chinh phục Bắc Kỳ. Đại sứ Pháp Bourée tại Trung
Hoa tiến hành một cuộc gặp mặt với Phó vương Trực Lệ (Bắc Kinh) Lý Hồng
Chương, hai bên bàn tính khả năng đặt vùng Lào Cai về tay nhà Thanh để
lập một trạm thuế quan, cũng như thiết lập một đường phân giới dọc theo
sông Hồng, phần phía bắc do nhà Thanh quản lý, phần nam thuộc về Pháp.
Tuy nhiên, chính phủ của Thủ tướng Jules Ferry không đồng ý phê chuẩn
hiệp nghị này, triệu hồi Đại sứ Bourée về nước. Lưu Vĩnh Phúc tái lập
nhà nước Đài Loan Dân Chủ, dân chúng Đài Loan yêu cầu giao con dấu
tổng đốc lại cho họ Lưu, nhưng ông không nhận chỉ xưng là Bang biện;
tuy nhiên, vẫn được coi là người lãnh đạo cao nhất. Người Đài Nam
thành lập nghị hội, phát hành tiền tệ, dự trù quân lương. Sau nhiều
nỗ lực không thành, quân Đài Nam bị quân Nhật bao vây, ngày
21/10/1895, họ Lưu phải cải trang để bỏ trốn từ An Bình vào Hoa lục.
Đài Loan không còn chỉ huy, buộc phải đàm phán hòa bình với Nhật. Năm
Quang Tự thứ 28 (1902), Lưu Vĩnh Phúc nhậm chức Tứ thạch trấn tổng binh
tại Quảng Đông. Sau cách mạng Tân Hợi (1911), giữ chức Tổng trưởng dân
đoàn Quảng Đông. Năm 1915, chính quyền Nhật Bản yêu cầu Tổng đốc Viên
Thế Khải chấp nhận 21 yêu sách thì Lưu Vĩnh Phúc là một trong những
người chủ chiến. Nhưng đến tháng 1 năm 1917, họ Lưu mắc bệnh mà chết. (còn tiếp)
PHẢN HỒI CỦA ĐỘC GIẢ: Ho ten: Việt Khôi Lượt xem: 2372 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|