Giáo dục »
Học chế tín chỉND - Năm 1993, Vụ Ðại học Bộ Giáo dục và
Ðào tạo đề xuất đưa học chế tín chỉ vào các trường đại học nước ta, nhiều người
ngỡ ngàng và ít trường hưởng ứng, chỉ có Ðại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh
đi đầu thực hiện. Năm 1998, Ðại học Thăng Long dạy và học theo học chế tín chỉ đầu tiên của
khối đại học dân lập. Hiện nay, tại các trường đại học ở nước ta và nhiều nơi
trên thế giới, nhất là ở châu Âu, người ta nói nhiều về học chế tín chỉ và đang
cố gắng đưa học chế tín chỉ vào nhiều trường đại học. Học chế tín chỉ là gì? GS, TS Lâm Quang Thiệp với báo cáo khoa học "Về phương pháp dạy, học và
đánh giá thành quả học tập trong học chế tín chỉ" đã làm sáng rõ lý luận và
phương pháp học, dạy theo học chế tín chỉ trong thời đại thông tin: Bản chất của học chế tín chỉ là cá thể hóa việc học tập trong một nền giáo
dục đại học cho số đông. Các triết lý làm nền tảng cho học chế tín chỉ là "giáo
dục hướng về người học" và "giáo dục đại học đại chúng". Các triết lý này được
vận dụng nhuần nhuyễn trong nền giáo dục đại học của Hoa Kỳ, nơi sinh ra học chế
tín chỉ. Nó ra đời đầu tiên ở Ðại học Ha-vớt cuối thế kỷ 19. Các đặc điểm quan
trọng của học chế tín chỉ quy định phương pháp dạy, học và đánh giá thành quả
học tập. Do mục tiêu cá thể hóa việc học tập, học chế tín chỉ có đặc điểm quan
trọng nhất là làm cho mỗi người học có thể học theo năng lực và điều kiện của
riêng mình. Ðặc điểm này buộc người dạy phải sử dụng phương pháp giảng dạy sao
cho phát huy được tính chủ động của người học, giúp người học biết cách học để
tự học. ![]() Quan niệm nền tảng của học chế tín chỉ là sự tích lũy kiến thức, quá trình
học là quá trình kiến thức được cóp nhặt dần dần, tích lũy đến đâu được ghi nhận
đến đấy. Do đó học chế tín chỉ chú trọng đến việc đánh giá kết quả học tập
thường xuyên. Ðơn vị tín chỉ được xác định dựa trên khối lượng lao động học tập của một
sinh viên trung bình. Ðịnh nghĩa tín chỉ "Nếu một môn học có một giờ lên lớp
trong một tuần, kéo dài một học kỳ thì được tính một tín chỉ" và "để bảo đảm
một giờ học ở lớp cần ít nhất hai giờ học cá nhân". Theo định nghĩa này, tín chỉ
bao gồm phần nổi (giờ học ở lớp) và phần chìm (hai giờ chuẩn bị cá nhân). Ðánh
giá thành quả học tập phải đánh giá được cả phần nổi và phần chìm. Từ lý luận trên, đặt ra phương pháp dạy và học theo tín chỉ trong thời đại
thông tin. Nó được quan niệm tổng quát: Học là quá trình tự biến đổi mình và làm
phong phú thêm bằng cách chọn, nhập và xử lý thông tin. Dạy là việc giúp cho
người học tự mình chiếm lĩnh được những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc
biến đổi tình cảm, thái độ. Ðể chuyển đổi sang học chế tín chỉ, yêu cầu hàng đầu
là phải đổi mới phương pháp dạy và học, theo tiêu chí "3C": Cách dạy học; Chủ
động của người học; Công nghệ thông tin truyền thông mới. Ðể việc dạy, học và đánh giá thành quả học tập theo học chế tín chỉ cần có
các giải pháp tạo điều kiện về cơ sở vật chất: tài liệu đầy đủ, thư viện, công
nghệ thông tin, thầy giỏi, tiếng Anh, tổ chức nhiều môn học, quản lý tốt... Ðặc
biệt thầy dạy cách học cho sinh viên, để họ biết chủ động và tự học. Về phương
pháp đánh giá thành quả học tập cần thực hiện thường xuyên trong tiến trình để
thu được các phản hồi, nhằm điều chỉnh thường xuyên việc dạy và học. Hỏi đáp
ngay tại lớp, làm các bài kiểm tra ngắn, sinh viên tự đánh giá kết quả học tập
theo các mục tiêu phải đạt được trong môn học... Muốn vậy phải có đề cương chi
tiết của giảng viên và học viên ngay từ đầu môn học. Ðề cương này xem như là hợp
đồng giữa người dạy và người học. Giảng viên phải cho sinh viên biết lịch trình
giảng dạy, các sách, website cần đọc, các mục tiêu cần đạt được trong môn học và
thông báo cho họ biết ở lớp họ sẽ chỉ được nghe giảng cách học và những vấn đề
cốt lõi quan trọng, còn các vấn đề khác, họ phải tự đọc trong sách. Với thỏa
thuận đó giữa thầy và trò, bài thi kết thúc học phần sẽ đánh giá được cả phần
nổi lẫn phần chìm trong quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ. Qua hơn mười năm Ðại học Thăng Long dạy và học theo học chế tín chỉ, đã tạo
cơ hội cho sinh viên năng động, sáng tạo, vượt khó. Có bạn sáu năm chưa ra
trường vì lý do cá nhân (kinh tế, thời gian). Nhưng cũng có bạn hai năm đã ra
trường với hai bằng đạt loại giỏi... Theo GS Hoàng Xuân Sính - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ðại học Thăng Long:
Cách học chế tín chỉ tạo điều kiện cho người học tự lập, chủ động. Nhưng vấn đề
quản lý rất căng thẳng. Sinh viên có quyền chọn học hết lớp này đến môn khác,
không cố định, không khuôn khổ. Trường phải nghĩ ra bao nhiêu cách để quản lý mà
vẫn khó theo dõi được hết. Rồi phải tổ chức nhiều môn học, tìm thầy giỏi, giáo
trình mới, đổi mới cách dạy và học, tư liệu, sách, công nghệ thông tin, thư
viện, giảng đường hiện đại... cần rất nhiều tiền. Và người học thì sao? Sinh
viên vốn rất thụ động. Có sách, có thư viện, có website, có thầy giỏi, giảng
đường lớn, nhưng có bao nhiêu người biết say mê tự học? Phương pháp học chế tín
chỉ không phải tự nhiên mà tới được. Nó sinh ra ở các nước giàu, con người có
truyền thống tự lập cá nhân rất cao. Các trường đại học nước ta hiện nay muốn
chuyển sang học chế tín chỉ, cần chuẩn bị kỹ về đội ngũ thầy dạy, cơ sở vật
chất, người dạy, người học, đổi mới giáo trình, cách học, cách dạy, cách tổ
chức, quản lý... mới có thể đạt kết quả. Trường nào chưa đủ các điều kiện chưa
nên thực hiện. GS Lâm Quang Thiệp nhiều năm làm việc ở Bộ Giáo dục - Ðào tạo, nhấn mạnh:
Trong thời đại thông tin, với cách dạy, cách học mới, nhằm đào tạo những cá nhân
tự chủ, tự lập. Ðể thực hiện học chế tín chỉ, vấn đề quan trọng hàng đầu và cũng
là khó khăn lớn nhất chính là đổi mới phương pháp dạy, học và đánh giá kết quả
học tập. Khắc phục khó khăn này không phải câu chuyện ngày một ngày hai, mà là
sự phấn đấu của cả hệ thống giáo dục đại học nước ta trong nhiều thập niên,
nhiều thế hệ. MAI THỤC Lượt xem: 5772 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|