
(ĐHVH)- Văn hoá và văn minh là hai khái niệm thuộc phạm trù xã hội. Nó có mối tương quan và gắn bó chặt chẽ với nhau theo từng bước thăng trầm của lịch sử nhân loại. Hai khái niệm này, thực chất là có sự khác nhau về mặt nội dung lẫn hình thức biểu thị. Song, trong thực tế thì chúng vẫn được dùng lẫn lộn ngay bởi các nhà chuyên môn và đôi lúc người ta còn coi khái niệm văn minh và văn hoá là một. Mặc dù về phương diện ngôn ngữ học thì văn hoá (Culture) và văn minh (Civilization) không phải là những từ đồng nghĩa, chúng luôn luôn là các thuật ngữ riêng lẻ và tách biệt với nhau. Điều đó dễ dẫn đến sự nhầm lẫn trong nhận thức, cũng như trong quá trình tìm hiểu và giải thích về sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội.

Khái niệm văn hoá hiện nay rất phổ biến nhưng để tiếp cận và giải thích
thì lại rất phức tạp. Từ văn hoá theo nghĩa thuật ngữ của nó là
bắt nguồn từ châu Âu để dịch chữ culture của Pháp, culture của Anh, kultur của Đức. Chúng có nguồn gốc
từ chữ Latinh cultus với nghĩa gốc là trồng trọt, được dùng theo hai nghĩa
cultus agri là "trồng trọt ngoài đồng" và cultus animi là
"trồng trọt tinh thần" tương ứng với "quá trình giáo
dục", bồi dưỡng tâm hồn con người. Như vậy xét theo nghĩa gốc, văn hoá
gắn liền với giáo dục, với quá trình hình thành nhân cách của con người.
Văn hoá là một khái niệm mới do người Nhật dịch từ chữ "culture"
của phương Tây và được sử dụng ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, từ văn hoá được các
nhà nho Duy Tân du nhập vào từ đầu thế kỷ này, cách hiểu khái niệm "văn
hoá" không những là đã theo cách hiểu của phương Tây mà đã từng
bước thay đổi tương ứng với sự phát triển của nền khoa học châu Âu hiện đại.
Tuy nhiên, trước đó hàng chục thế kỷ cũng đã có một quan niệm mang yếu tố
truyền thống tương đồng với cái ngày nay phương Tây gọi là "văn
hoá"
Trong cách hiểu truyền thống, ta thấy có những quan hệ thật khăng khít
giữa những từ ngày nay gọi là văn hoá, văn minh, văn vật, văn hiến
với những nghĩa khác nhau. Tất cả đều có nguồn gốc từ chữ “ văn ".
"Văn", trong ngôn ngữ cổ Trung Quốc là cái vẻ đẹp do màu sắc
tạo ra, từ đó nó có nghĩa là hình thức đẹp đẽ, cái được biểu hiện
ra bên ngoài. Ví dụ như: mặt trời, mặt trăng, tinh tú, mây mưa, sấm, chớp....
là văn của trời; vằn lông, màu sắc.... là văn của muông thú... Con người
cũng có văn đó là những cái được biểu hiện ra trong đời sống xã hội như: Điển
chương chế độ, phong tục, tập quán, ứng xử, nếp sống, văn học nghệ thuật v.v...
Trong kinh Dịch, lời soán ở quẻ Bí viết : "Bí hanh, nhu lai nhi
văn chương,cố hanh; phân cương thượng nhi văn nhu, cố tiểu lợi hữu du vãng,
thiên văn dã. Văn minh dỉ chỉ, nhân văn dã. Quan hồ thiên văn, dĩ sát thời
biến; quan hồ nhân văn, dĩ hoá thành thiên hạ". (1)
Văn, theo cách hiểu ở câu trên là: “Cái đẹp của cương và nhu xen kẽ
nhau đó là văn của trời. Văn sáng tỏ rực rỡ, dừng lại ở lễ nghĩa đó là văn của
người. Xem xét văn của trời có thể hiểu được sự chuyển biến của bốn mùa. Xem
xét văn của người có thể thúc đẩy việc giáo hoá làm làm cho thiên hạ tốt đẹp
(hoá) “
Văn, là cái biểu hiện ra bên ngoài, đối lập với cái bên trong. Đó là
"chất" là "thực" cái làm nên nội dung. Khổng
Tử nói: "Chất quá mức của văn thì thô kệch, văn quá mức của chất thì
loè loẹt. Văn và chất hài hoà với nhau mới là quân tử". Văn, là cái
bên ngoài, không phải là cái thô ráp tự nhiên bên trong, nên có thể sửa sang,
trau dồi, khiến cho cái chất phác tự nhiên trở thành văn vẻ, đó là tác dụng của
sự giáo hoá.
Hiểu văn hoá theo nghĩa "văn trị giáo hoá" là có sự tương đồng với khái niệm "văn hoá" dịch từ chữ "culture" với ý nghĩa "trình độ phát triển, lịch sử của xã hội và con người biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần, của những xã hội, dân tộc, bộ tộc cụ thể. Theo nghĩa hẹp, văn hoá chỉ liên quan tới đời sống tình thần của con người" (Bách khoa toàn thư Liên Xô. Mục Kul'tura). (2)

Theo cách hiểu trên đây, thì văn hoá theo nghĩa rộng nhất có thể được
phân làm hai loại - văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Khi
hiểu như vậy, không có nghĩa là xem hai mặt này hoàn toàn tách biệt và đối lập
nhau, mà chúng luôn có mối liên hệ và thống nhất với nhau trong đời sống xã
hội. Nói chung, có thể gọi văn hoá vật chất là "văn hóa kỹ thuật"
(Technical Culture ), bao gồm toàn bộ kỹ thuật và công nghệ chế tạo ra các sản
phẩm vật chất, kể cả kỹ thuật sinh sống (sinh hoạt và kiếm sống) và trình độ tổ
chức xã hội. Đó là mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan dựa trên
cơ sở phát triển của một lực lượng sản xuất nhất định. Có thể nói đó
cũng là trình độ của con người trong việc khám phá và chiếm lĩnh thế giới nói
chung. Còn văn hoá tinh thần (Spiritual Culture) bao gồm những tư tưởng,
giá trị, chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ... đó là những "khuôn mẫu ứng xử"
của con người với thế giới chung quanh, dựa trên hệ giá trị định hướng do toàn
xã hội đề ra.
Như vậy, văn hoá vật chất chỉ
ra phương thức hành động của con người để tồn tại trong đời sống vật chất, được
gọi là văn minh (Civilization) với sự phát triển cao về trình độ
sản xuất, nó bao hàm các tiến bộ về kỹ thuật làm chủ tự nhiên, về
phương thức sống và sự tiến bộ về tổ chức xã hội nhằm thoả mãn
những nhu cầu vật chất của con người. Như vậy, là có nhiều nền văn minh
khác nhau, như nền văn minh đồ đá, nền văn minh đồ sắt hoặc nền văn
minh nông nghiệp, nền văn minh công nghiệp... Mặt này luôn luôn "biến
động" trong đời sống xã hội, vì các thành tựu của khoa học - kỹ thuật
luôn có sự phát triển, ngày một tiến bộ ở trình độ cao hơn và được truyền bá,
thâm nhập, phổ biến từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, tất yếu, nó sẽ trở
thành gia tài chung của toàn nhân loại. Mặt thứ hai mang yếu tố "tĩnh
tại" hơn, đó là văn hoá (Culture) - mặt định hình của các
xã hội, được thể chế hoá trong các lĩnh vực triết học văn học, nghệ
thuật, tín ngưỡng - tôn giáo, nếp sống, phong tục, tập quán, vui chơi
giải trí... và các khuôn mẫu ứng xử. Nó thuộc về văn hoá tinh
thần nhằm thoả mãn những nhu cầu tinh thần của con người.
Như vậy, trong tương quan giữa văn hoá và văn minh
thì văn hoá thuộc "tĩnh", văn minh thuộc "động".
Song, không có nghĩa tuyệt đối là trong văn hoá chỉ có tĩnh và trong văn minh
chỉ có động hoàn toàn, hai mặt này - văn hoá và văn minh, luôn có sự tương tác
và gắn bó chặt chẽ với nhau. Văn hoá trở thành cốt lõi và là linh
hồn của văn minh. Có thể nhận định một cách quy ước, văn
hoá có xu hướng thiên về sự bảo tồn, gìn giữ các giá trị - chuẩn mực và
bản sắc dân tộc, thuộc phạm trù truyền thống còn văn minh
là sự tiếp nhận, hội nhập và học hỏi những yếu tố tiên tiến của thời đại, thuộc
phạm trù hiện đại. Xét về mặt giá trị thì văn minh
có xu hướng thiên về cái chung, nó được chấp nhận ở đa số các cộng đồng,
còn văn hoá lại thiên về cái riêng - cái đặc thù - làm nên
bản sắc riêng của mỗi cộng đồng - dân tộc. Hai mặt này luôn tồn
tại trên từng dòng chảy của lịch sử (tính thời gian).
Trong khoa "Văn minh học so sánh" cũng tách khái
niệm văn hoá ra làm hai mặt: văn hoá vật chất bao gồm văn
hoá kỹ thuật, các máy móc ( được gọi là văn
minh, còn mặt khác là văn hoá chỉ văn hoá tinh thần,
bao gồm hệ tư tưởng, hệ giá trị và chuẩn mực xã
hội. Cả hai mặt đều xây dựng bằng khái niệm - mang tính thao tác và mỗi ý kiến
chỉ sự khác nhau về mặt phân tích hiện tượng sinh hoạt. Theo nghĩa này, dù ở xã
hội nào, thì văn minh và văn hoá cũng đều tồn tại
song song với nhau (tính không gian).
Định nghĩa trên, với khái niệm có tính chất công cụ (máy móc) như vậy,
đã được Umesao-Tadao đặt ra. Trong đó văn minh là hệ thống sinh
hoạt của con người, bao gồm các thiết chế và các bộ máy vận hành trong
đời sống xã hội. Còn văn hoá là hệ thống giá trị xã hội được hình
thức hoá, khuôn mẫu hoá thành những khuôn "mẫu văn hoá" quy
định thế ứng xử trong quá trình giao tiếp xã hội của con người. Nghĩa là
toàn bộ phần ngoài của vòng tròn đồng tâm trong cơ cấu sinh hoạt là “ văn
minh" (như cơ cấu máy tính) còn phần lõi trong đó là "văn
hoá" (phần mềm) sinh ra bộ phận bên ngoài.(3)
Có thể cho rằng, văn hoá thuộc về
"cái thể " còn văn minh thuộc về "cái dụng"
hay nói khác đi, trí khôn của con người biểu hiện ra bên ngoài (hướng ngoại) do
quá trình ngoại phóng đã trở thành văn minh, còn trí khôn con người biểu
hiện vào bên trong (hướng nội) tức quá trình nội phóng đã tạo ra các giá
trị văn hoá.
Trong đời sống xã hội thường có sự lệch pha giữa văn minh
và văn hoá, như trong một xã hội văn minh
cao vẫn có hiện tượng suy thoái về văn hoá và ngược lại một xã
hội có truyền thống văn hoá lâu đời nhưng vẫn chưa có nền văn minh - hiện đại.
Song văn hoá với tư cách là hệ thống "giá trị tinh
thần" trở thành động lực tương đối tác động trở lại đời sống xã
hội để giúp cho sự phát triển của nền văn minh. Tuy
nhiên, như thế không có nghĩa nó chỉ là động lực mà không thể là cái gì khác. Văn
hoá, trong điều kiện này, về phương diện này... đóng vai trò là động
lực, nhưng ở trường hợp khác, về phương diện khác... lại không còn là động lực,
thậm chí có khi trở thành vật cản của quá trình phát triển đời sống xã hội. Đó
là phép biện chứng giữa văn minh và văn hoá trong
mối tương tác qua lại giữa chúng với nhau tạo điều kiện cho nhau cùng phát
triển.
Theo cách tiếp cận và nhận thức như vậy, thì văn
hoá không đứng ngoài quá trình phát triển đời sống xã
hội, nó nằm trong quá trình này và trở
thành yếu tố "nội sinh" của sự phát triển. Nó vừa là mục
tiêu vừa là động lực và là hệ điều tiết của đời sống xã hội. Bởi
lẽ, yếu tố hàng đầu của văn hoá chính là sự hiểu biết, là trí
khôn của con người, được tích luỹ trong quá trình học tập và lao động sản
xuất cũng như đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng
dân tộc. Nó định hướng thế ứng xử cho mỗi cá nhân và các cộng đồng
người, thông qua hệ thống các "khuôn mẫu hành vi" đã được đối
tượng hoá trở thành các "biểu tượng văn hoá", nhằm vươn
tới các giá trị chân - thiện - mỹ trong mọi mối quan hệ với tự
nhiên, xã hội và chính bản thân con người. Nói như Abraham Moles (Pháp) "Văn
hoá - đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường nhân tạo, do con người xây dựng
nên trong đời sống xã hội của mình". (4)
Trong thời đại ngày nay, xu hướng phát triển theo con đường văn
minh hoá đang trở thành luồng sóng dữ dội, nhất là ở các nước thứ
ba chậm phát triển đang tích cực đi theo. Con đường văn minh hoá - công nghiệp hoá
và hiện đại hoá là đường đi đúng đắn, cần phải thực hiện, nhằm phát triển đời
sống xã hội. Song, vấn đề đặt ra là phải phát triển như thế nào nhưng vẫn giữ
được bản sắc văn hoá dân tộc.
Nói đến văn minh là nói đến trình độ phát triển của một phương
thức sản xuất nhất định. Song, trước hết là sự phát triển của lực
lượng sản xuất và các tổ chức xã hội tương ứng, để từ đó sản sinh ra
thật nhiều của cải vật chất cho đời sống con người. Những thành quả phi thường
của khoa học kỹ thuật đã làm nâng cao hiệu quả sản xuất đem lại những tiện nghi
vật chất cho đời sống xã hội, đồng thời giải phóng được sức lao động
của con người.
Nhưng công nghiệp hoá và hiện đại hoá không phải là một công việc giản
đơn, nhất là đối với các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, đã có bề dày của
nền văn hoá truyền thống với quan niệm sống "giản đơn" và "biết
đủ", theo một phương thức "nội giao" khép kín. Nếp
sống đó đã được định hình từ hàng nghìn năm nay, nên chưa bắt kịp với nhịp sống
hối hả và mạnh mẽ theo tiết tấu công nghiệp, hiện đại, của nền văn minh phương
Tây. Bên cạnh đó sức ỳ của những giá trị văn hoá cổ truyền dang còn bám
rễ ăn sâu trong từng nếp nghĩ suy của người phương Đông. Song, nhu cầu phát
triển đời sống xã hội lại là nhu cầu bức thiết không thể thiếu được đối với đời
sống của con người hôm nay.
Thực chất, quá trình văn minh hoá
không chỉ giản đơn là quá trình kinh tế hoá và công nghệ hoá đơn
thuần, mà còn phải phát xuất từ một thể chế chính trị - xã hội
nhất định, từ các giá trị định hướng và các "khuôn mẫu văn hoá"
cổ truyền - Nguyên mẫu (Archetypes) đang chìm sâu trong nền văn hoá truyền
thống, cùng với những yếu tố tâm lý và tính cách dân tộc.
Chúng ta thừa nhận sự thất bại phần lớn của một số nước thứ ba, đã và
đang trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá, theo đường lối "phương
Tây hoá" tức là đường lối tăng trưởng kinh tế bằng phương thức "ngoại
sinh". Hậu quả này bắt nguồn từ quan niệm cho rằng muốn"tiến
hoá" thì phải nhanh chóng "phương Tây hoá"
theo xu hướng "ngoại nhập". Phải chăng đã có sự nhầm lẫn
khi cho rằng văn minh phương Tây cao thì trình độ văn hoá
phương Tây cũng rất cao, có thể phát xạ khiến cho các nước lạc hậu trở thành
những nước văn minh - hiện đại, rập khuôn theo lối sống phương Tây.
Điều này xem ra chưa đúng trong thực tế bởi lẽ, có những nước phương Tây
hiện đại tuy có nền văn minh vật chất phát triển, nhưng lại bị
thoái hoá về mặt văn hoá tinh thần, thậm chí còn đánh mất đi bản
sắc văn hoá truyền thống - dân tộc, điều đó là một nghịch lý.
Người ta ngày càng hiểu rõ rằng bản chất cốt lõi của văn hoá là tính nhân văn, đã tác động trực tiếp đến sự phát triển và luôn chiếm giữ một ý nghĩa thật to lớn với sự tiến bộ của đời sống xã hội. Văn hoá không chỉ được coi là "một thứ trang trí" (theo lời F.Mayor), ngày nay, văn hoá đã được nhìn nhận "là nền tảng và linh hồn của cuộc phiêu lưu của con người. Trước kia người ta coi nó là thứ yếu, ngày nay người ta bắt đầu nhận ra nó là cốt lõi của vấn đề" .(5)

Trước đây, chúng ta thường lý giải cơ sở
kinh tế là nền tảng xã hội, trên đó xây dựng kiến trúc thượng tầng,
trong đó có văn hoá. Do vậy, văn hoá
phải chịu sự quy định chặt chẽ của nền kinh tế, tất nhiên văn hoá
có sự tác động tương đối trở lại đối với kinh tế. Song, với quan niệm
đổi mới hiện nay cho rằng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã
hội thì nhận định về văn hoá và phát triển cũng có
sự thay đổi: "Đúng là lĩnh vực văn hoá tinh thần thường mang dấu ấn của
các hình thái kinh tế - xã hội. Về phương diện đó văn hoá nhất trí với thượng
tầng kiến trúc. Nhưng từ đó không thể kết luận nó nằm trong thượng tầng kiến
trúc, vì trong lĩnh vực văn hoá còn có những yếu tố nằm ngoài kiến trúc thượng
tầng, thí dụ, các tri thức khoa học tự nhiên, ngôn ngữ với tư cách là phương
tiện giao tiếp xã hội, các quy tắc tư duy v.v...". (6)
Nói văn hoá là nói đến những giá trị được các cộng
đồng dân tộc và nhân loại liên tục sáng tạo ra trong quá trình lịch sử
lâu dài. Có những giá trị như chân, thiện, mỹ là những giá trị
trường tồn mãi trong lịch sử loài người, nó đảm bảo được tính liên tục
trong tiến trình lịch sử nhân loại và của dân tộc. Các giai cấp khác nhau đã
ghi lại dấu ấn của mình và tạo ra những giai đoạn khác nhau trong lịch sử phát
triển văn hoá, nhưng không thể làm biến dạng nền văn hoá nhân loại.
- Phê phán nhóm "văn hoá vô sản" ở Nga đầu những năm
20, Lê nin chỉ ra rằng, khái niệm văn hoá lớn hơn ý thức hệ. Có
nghĩa là, trong văn hoá có những nhân tố nằm ngoài ý thức hệ. (7)
Về mối quan hệ biện chứng giữa văn minh và văn hoá theo giáo sư Nguyễn
Hồng Phong cũng nhận định: "Văn hoá không hoàn toàn thuộc thượng tầng
kiến trúc, nó không thay đổi theo sự thay đổi của phương thức sản xuất, của cơ
sở kinh tế xã hội. Các cuộc cách mạng lớn, chân chính đều thể hiện tính liên
tục về văn hoá và văn hoá chính là động lực của cách mạng. Giữa tính truyền
thống và tính hiện đại có sự kế thừa và kết hợp". (8)
Qua đó, ông cũng nêu lên tấm gương về sự kết hợp giữa văn hoá
truyền thống với nền văn minh hiện đại của Nhật Bản,
đã sử dụng các giá trị của văn hoá truyền thống để phục vụ cho phương thức
sản xuất mới. Vẫn tầng lớp quý tộc Samurai đã làm cuộc cách mạng Minh Trị
cung cấp những nhà kinh doanh, nhà quản lý, nhà giáo dục đầu tiên cho thời cải
cách. Đất nước "Mặt Trời mọc" đã biết học khoa học và công
nghệ phương Tây nhưng kết hợp với giá trị văn hoá Nhật Bản đó là "Tân
Khổng giáo" để vươn mình đứng lên trở thành một trong những con Rồng
của Châu Á.
Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá VII "Về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm
trước mắt" nêu rõ: "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,
một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội". (9).
Lâu nay, chúng ta chỉ chú ý đến cơ sở kinh tế, ít ai nghĩ đến một cơ sở
khác, một nền tảng khác - đó là cơ sở và là nền tảng tinh thần,
là toàn bộ những giá trị tinh thần của dân tộc và của nhân loại
sáng tạo ra. Những giá trị đó thực chất là tiềm năng, là năng lượng tinh
thần, góp phần làm nên sức mạnh, phẩm chất và năng lực của các thế hệ
công dân. Thiếu nó, dân tộc khó phát triển vững mạnh.
Và, trong hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
"Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc" cũng nhận định "Những thành tựu của cách mạng khoa
học công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để
chúng ta tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra
những thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc". (10)
Tư tưởng trên không chỉ có ý nghĩa khẳng định
các giá trị văn hoá quá khứ của dân tộc, của nhân loại trước đây
và hiện nay, mà còn hình thành một quan niệm mới về cơ sở phát triển của đất
nước theo mô hình - văn minh phương tây kết hợp với văn hoá
dân tộc. Đó là mô hình đúng đắn nhất, là phương hướng chiến lược cùng
các nhiệm vụ và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và
phát triển nền văn hoá nước ta, theo đúng cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo nghị quyết đại hội lần thứ VIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về mối quan hệ tương tác giữa truyền thống và hiện đại, giáo sư Trần
Quốc Vượng trong một bài viết có nhận định rằng: Văn hoá và phát triển ở
Việt
Ở các nước phương Tây quan niệm truyền thống là sự bảo
thủ, lạc hậu, do vậy, giữa truyền thống và hiện đại luôn có
một khoảng cách lớn, phát triển cũng là đoạn tuyệt với quá khứ. Có một giai
đoạn khá dài nhiều người cho rằng muốn xây dựng "văn hoá mới"
phải xoá bỏ "văn hoá truyền thống" đã lỗi thời và lạc
hậu. Như vậy, hiện đại hoá cũng có nghĩa là "tây phương
hoá", lấy văn hoá hiện đại thay cho văn
hoá truyền thống. Sự phát triển là một đứt đoạn về văn hoá, cho
nên đã cực đoan xoá bỏ các giá trị truyền thống - các "khuôn mẫu văn
hoá" cổ truyền. Đó là việc làm
mang tính ấu trĩ, duy ý chí, vì phát triển không tính đến yếu tố "nội
sinh", không xem văn hoá là nền tảng tinh thần
- một động lực tác động trở lại nhằm thúc đẩy cho đời sống kinh
tế phát triển.
Như vậy, văn hoá chưa hẳn đã hoàn toàn theo quy luật
"tiến hoá" như văn minh, văn hoá sau không chắc
tiến bộ hơn văn hoá trước ( đối với các "tác phẩm văn hoá nghệ
thuật" là một minh chứng), văn hoá vùng này chưa phải đã cao hơn văn
hoá vùng khác (thuyết "trung tâm
Châu Âu”) mà chỉ có nền văn hoá nhân bản hoặc là "phi nhân bản". Nói
khác đi, văn hoá không có sự cắt đoạn mà nó liên tục "chuyển hoá"
trên dòng đi của lịch sử và phát triển theo từng vùng văn hoá khác nhau (Sub
Culture), tạo nên các tiểu vùng văn hoá, có sự "thống nhất trong đa
dạng" với nền văn hoá chung của toàn nhân loại. Văn hoá
là mặt biểu thị về "giá trị tinh thần" đối với văn
minh, và cùng tồn tại từ rất lâu đời với nền văn minh. Ví
dụ như ta có: "nền văn minh lúa nước" và "nền văn hoá
cộng đồng làng xã" đã cùng song song tồn tại trong cộng đồng - dân tộc
Việt
Trong lòng mỗi dân tộc đều có nền văn minh và văn hoá riêng của mình. Sự khác nhau về các "Biểu tượng văn hoá" (khuôn mẫu văn hoá) chính là sự khác nhau về các "giá trị định hướng" giúp cho nền văn minh của dân tộc đó phát triển nhưng không làm mất đi "bản sắc văn hoá" của dân tộc mình. Quá trình "văn minh hoá" có tốt đẹp hay không là còn phụ thuộc vào sự định hướng của văn hoá và điều kiện phát triển của từng nước, của từng cộng đồng - dân tộc, khiến cho quá trình này phát triển nhanh hoặc dậm chân tại chỗ. Dù sao thì sự "tiến hoá" của văn minh phải có định hướng và điều tiết của văn hoá, bởi lẽ, đời sống xã hội có văn minh - hiện đại đến đâu đi chăng nữa nhưng để mất đi "tính nhân bản" thì đó là điều bất hạnh cho loài người. Chính hai quả bom nguyên tử trút xuống đất nước Nhật Bản trong thế chiến thứ hai đã là điều minh chứng cho cái gọi là sự "tiến bộ" của nền văn minh Châu Âu.

Khi đề cập đến văn minh phương Tây và hậu quả của nó, ta
cũng không thể quên sự khác biệt giữa văn hoá phương Tây với văn
hoá phương Đông. Nền triết học phương Tây thiên về tính
"duy lý" khác với sự "minh triết" của nền
triết lý phương Đông. Đó là một trong những mấu chốt cơ bản để nhìn thấy sự
khập khiễng khi cố áp đặt một cách rập khuôn mô hình "phát triển"
của các nước phương Tây vào quá trình xây dựng nền văn minh
phương Đông. Vấn đề đặt ra, là sau mấy trăm năm phát triển nền văn minh
cơ khí hiện đại thì chính các nước này, giờ đây phải có lúc đã giật mình nhìn
lại khi thấy nguy cơ của sự băng hoại các giá trị đạo đức và dần mất đi
cái gọi là "nền tảng tinh thần" của một dân tộc. Trước sự sa
sút về đạo đức và sự suy sụp về các "giá trị nhân bản"
thì xu hướng quay về tìm hiểu các giá trị văn hoá tinh thần của
phương Đông đã trở thành những luồng sóng lớn mà phương Tây đang có cuộc hành
hương về nguồn để tìm lại các giá trị văn hoá cổ truyền đã mất.
Đi theo văn minh khoa học - kỹ thuật phương Tây nhưng chúng ta cần nhìn
ra được bản chất của nó với đầy đủ sự nghịch lý nằm ngay trong lòng của chủ
nghĩa tư bản. Quá trình phát triển của cơ chế kinh tế thị trường với những hiệu
quả khoa học và công nghệ hiện đại, khiến cho của cải vật chất ngày càng tăng
lên nhưng đồng thời sự phân hoá giàu nghèo càng thêm gay gắt. Cùng với việc gia
tăng của cải vật chất đồng thời cũng gia tăng sự tha hoá về mặt tinh
thần, gia tăng bệnh tật và cả tội ác. Bên cạnh đó còn biết bao điều hiểm
hoạ của sự phá hoại môi trường tự nhiên một cách thô bạo vì sự khai thác
tài nguyên thiên nhiên một cách triệt để, nhằm mưu cầu lợi nhuận. Con người đã
phải trả giá thật đắt cho việc làm đó, bằng những trận động đất lớn và những
cơn đại hồng thuỷ, đã cướp đi bao sinh mạng vô tội mà chúng ta từng chứng kiến
trong vài thập kỷ cuối của thế kỷ này.
Từ đó, chúng ta cần nhận định lại những gì là ưu và nhược điểm của nền
văn minh phương Tây, để có sự chọn lựa thật khôn ngoan và đúng đắn trong xu thế
văn minh hoá ở các nước còn lạc hậu. Trong quá trình văn minh hoá
ta cũng nhận thấy có sự khác nhau về bản chất của văn hoá, trên
nhiều phương diện của hai nền văn minh phương Tây và phương Đông.
Nó bắt nguồn từ nền tảng tinh thần, từ động cơ và tính mục đích trong
định hướng phát triển đời sống xã hội ở mỗi khu vực, cho nên quá trình hiện đại
hoá và văn minh hoá ở mỗi nơi có sự khác nhau về chất. Động cơ phát triển của nền
văn minh phương Tây là chú trọng đến đời sống vật chất, sự
thoả mãn những dục vọng, về cảm giác và dục tính, tự do phóng
túng, đề cao vai trò cá nhân với sự phá vỡ hệ thống. Trái lại, động cơ phát
triển của nền văn minh phương Đông là chú ý đến đời
sống tinh thần, thiên về tính nhân bản, giải phóng tâm thức,
hướng nhiều đến đời sống tâm linh mong đạt đến con người hoàn
thiện, hoà hợp với thế giới tự nhiên.
Mục đích cao nhất của nền văn minh phương Tây là hoài bão
về một xã hội lý tưởng, có thể thoả mãn mọi nhu cầu, mọi khát
vọng về sự hưởng thụ vật chất, về một thiên đường tại trần thế.
Trái lại, ở phương Đông lại hoài bão một xã hội "đại
đồng" có thể sống với nhau một cách hoà hợp với trật tự
của vũ trụ vô biên, phù hợp với quy luật của trời đất, đạt đến
những giá trị "nhân văn" trong sự hoà đồng hoà hợp toàn diện,
kêu gọi con người sống theo sự toàn thiện của chính mình trong mọi hoàn cảnh.
Nói đến văn hoá là nói đến giá trị đạo đức, giá trị
thẩm mỹ. Phương Tây thiên về cái "đẹp", còn phương Đông
thiên về cái "Thiện", nó bao gồm những giá trị,
những chuẩn mực giúp cho con người có định hướng trong khi thoả
mãn các nhu cầu vật chất.
Do vậy, trong quá trình văn minh - hiện đại hoá đời sống xã hội ở các
nước phương Đông, phải cần quan tâm đến yếu tố văn hoá - nội sinh, nó
chính là nền tảng tinh thần và có vai trò định hướng cho
quá trình phát triển của văn minh đi đúng theo quỹ đạo của mình. Nếu bỏ qua vai
trò định hướng và điều tiết của văn hoá thì
chủ thể văn minh sẽ trở nên tha hoá và sẽ biến thành nô lệ
của đời sống vật chất. Từ đó, dẫn đến sự suy thoái về mặt văn hoá tinh
thần, làm mất đi bản sắc và tính cách của
cả một cộng động - dân tộc.
Xét về mặt lịch sử, hàng nghìn năm trước đây khi loài người hình thành
nên đời sống văn hoá thì đồng thời văn minh cũng
xuất hiện, như văn minh sử dụng lửa (ăn thịt chín). Và hiện nay, trong
lòng của nền văn minh thành thị - công nghiệp hiện đại, thì vẫn
có sự tồn tại của các giá trị văn hoá cổ truyền. Văn minh
và văn hoá không phủ định nhau mà hổ tương cho nhau phát triển. Văn
hoá mang yếu tố "tĩnh" vì bản chất nền tảng của nó là
"động" (thời gian) còn văn minh mang yếu tố
"động" vì bản chất của nó là "tĩnh" (không
gian).
Đó là mối quan hệ biện chứng giữa "động" và "tĩnh"
có trong lòng văn minh và văn hoá. Điều đó cho ta
nhận thức rằng, trong văn minh đã hàm chứa yếu tố văn hoá
và ngược lại, trong văn hoá đã hàm chứa yếu tố văn minh.
Vấn đề đặt ra, là sự khát vọng hiện đại hoá - văn minh hoá đời sống xã
hội, nhưng không dẫn đến sự tha hoá đời sống tinh thần của con người. Văn
minh hoá nhưng vẫn đảm bảo được tính liên tục của văn hóa ở
khắp mọi lĩnh vực và mọi mặt của đời sống, yếu tố truyền thống và hiện
đại luôn đan xen và hoà quyện với nhau trong quá trình biến đổi cơ cấu xã
hội theo xu hướng của sự phát triển, mà trước hết là ở các nước có nền văn
minh và văn hoá lâu đời.
Unesco cũng nói về phép biện chứng giữa truyền thống và hiện đại "Đó
là nguyên tắc động, cho phép một xã hội biến đổi mà không làm mất hình thế độc
đáo của nó, chấp nhận sự thay đổi mà không tự tha hoá, do đó tiếp tục quá trình
liên tục của sự sáng tạo của nó, theo phép biện chứng liên tục của truyền thống
và tính hiệu đại, của tính liên tục và tính đứt đoạn, của di sản và sự đổi mới"
.(12)
Theo quan điểm trên đây, đó chính là tính biện chứng giữa nhân tố ngoại
sinh trong sự phát triển nội sinh. Sự phát triển nội sinh không khước từ
yếu tố ngoại sinh mà đó lại là sự tiếp biến văn hoá trong quá
trình phát triển đời sống xã hội. Yếu tố ngoại sinh tuy là yếu tố mới,
nhưng phải là yếu tố tiến bộ và phải thích hợp giúp cho xã hội biến đổi tiến
bộ. Không thể ghép một "Gen lạ" vào trong sinh thể xã
hội, làm vậy, chỉ khiến cho nó biến dạng và có thể sinh ra quái thai.
Quá trình tiếp nhận yếu tố ngoại lai quá khác biệt lại có sự đồng hoá sẽ tạo
nên một nền văn hoá mất bản sắc, cũng là sự từ bỏ các giá trị đạo đức
truyền thống.
Theo Daisaku Ikeda (Nhật) cho rằng: cần phải có sự chuyển biến căn bản
trong suy nghĩ về mối quan hệ tương tác giữa tinh thần và vật chất.
Sự nâng cao mức độ phúc lợi tinh thần phải trở thành mối quan tâm
đầu tiên sau đó mới nâng cao phúc lợi vật chất, tức là phải ưu
tiên nâng cao trình độ văn hoá, tôn giáo, giáo dục, học thuật và nghệ thuật
của xã hội. Điều đó nói lên vấn đề tinh thần và văn hoá
được đặt lên hàng đầu, thì sẽ tạo ra động lực cho kinh tế
và những tài năng sáng tạo của con người sẽ có cơ hội phát triển
một cách toàn diện.
Hiện nay, không nên quan niệm phát triển là quá trình tiệm tiến theo thuyết tiến hoá từ thấp đến cao, mà phát triển có những bước nhảy vọt bằng tốc độ của thời đại vượt cả không gian, lẫn thời gian. Quá trình văn minh hoá và văn hoá hoá là hai mặt của sự phát triển. Chúng có mối quan hệ tương tác biện chứng qua lại giữa hiện đại với truyền thống, giữa kế thừa với giao lưu, giữa dân tộc với thời đại trong quá trình tiếp biến văn hoá. Hiện đại không phải bê nguyên si cái mới vào và truyền thống không phải là bảo thủ, giữ lại toàn bộ cái cũ - cái lạc hậu không còn mang giá trị tích cực đối với đời sống xã hội.

Phải biết hiện đại hoá cái truyền thống và biết truyền
thống hoá cái hiện đại, để sao cho hiện đại nhưng vẫn giữ được
truyền thống và trong cái truyền thống lại phải có nhân tố của hiện đại. Văn
hoá không chỉ phát triển đơn tuyến mà đa tuyến, không chỉ
phát triển theo cái mới mà còn quay về để cách tân cái cũ
cho phù hợp với hiện đại, nhằm năng động hoá toàn bộ di sản dân tộc.
Hiện đại hoá còn làm sống lại, phục hưng cái cũ, tức là trong quá trình văn
minh hoá vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc, vẫn giữ được
cái cổ truyền, đó mới là con đường đi đúng đắn để thúc đẩy xã hội phát
triển, cũng là để góp phần xây dựng ngôi nhà văn hoá chung của toàn nhân loại.
Chủ trương giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc đi đôi với việc
tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới của Đảng cộng
sản Việt Nam là phù hợp với luận điểm về tính liên tục văn hoá, giữa truyền
thống và hiện đại, giữa tiên tiến và cổ truyền. Đó
cũng chính là sự biểu hiện của mối quan hệ tương tác biện chứng giữa văn
minh và văn hoá trong quá trình phát triển công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước.
THƯ MỤC TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Đình Hượu
(1993), Về khái niệm văn hóa, cách hiểu theo truyền thống khác cách hiểu
ngày nay.
2.
Phan Ngọc (1999), Bách khoa toàn thư Liên Xô, Nxb Thanh niên, tr.
9.
3.
Homo yasuhei, Tanosheky Akio, Mitsuyoshi Toshuky (Hồ Hoàng Hoa dịch (1990), Cơ
sở xã hội học,
4.
Hoàng Vinh (10/ 1996), Khái niệm văn hóa, Học viện Chính trị Quốc
gia.
5.
Tạp chí Người đưa tin Unesco (số 10. 1994), tr. 35.
6.
Tập bài giảng Văn hóa xã hội chủ nghĩa (1997), Nxb Chính trị Quốc
gia, tr. 41, Hà Nội.
7.
Tập bài giảng Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia,
tr. 42.
8.
Nguyễn Hồng Phong, Văn hóa và sự phát triển nội sinh (bản in
roneo), tr.6.
9.
Văn kiện Hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành Trung ương khóa VII,
Nxb Sự thật, tr. 5, Hà Nội.
10.
Nghị quyết Đại hội lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII, Bộ Văn hóa Thông tin.
11.
12. Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở
nước ta, Viện Văn hóa Thông tin, tr. 200. 203, Hà Nội.
Tác giả:TS. Nguyễn Văn Hậu