Xu hướng đào tạo cán bộ thư viện(ĐHVH)- Đặc biệt, những năm gần
đây công tác đào tạo cán bộ thông tin thư viện phát triển hơn bao giờ hết cả về
số lượng các cơ sở đào tạo và nội dung chương trình đào tạo. Bài viết này nhằm
phân tích xu hướng đào tạo cán bộ thông tin thư viện trên thế giới, đánh giá
thực trạng công tác đào tạo cán bộ thư viện ở Việt
Thư viện Đại học Havat (Mỹ) Ngày nay chúng ta không thể phủ
nhận một điều rằng công nghệ thông tin và truyền thông đã ảnh hưởng tới tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có nghề thông tin thư viện. Theo
Alvin Toffler (1984), công nghệ thông tin và truyền thông là tiền đề để xuất
hiện làn sóng văn minh thứ ba và đó chính là xã hội thông tin (information
society). Trong xã hội thông tin, thông tin tri thức đã trở thành nguồn lực và
lợi thế cạnh tranh của các quốc gia trên thế. Để phát huy được các lợi thế về
thông tin đồng thời giúp thu hẹp khoảng cách giữa người giàu thông tin
(information rich) và người nghèo thông tin (information poor), nhiều quốc gia
trên thế giới rất quan tâm đến phát triển đào tạo cán bộ thông tin thư viện.
Gần đây một số học giả chỉ ra rằng lĩnh vực của chúng ta là trung tâm của xã
hội thông tin và đóng vai trò quan trọng trong thời đại số hóa ( Một trong các sự thay đổi lớn là sự
đổi mới nội dung đào tạo. Trước năm 1990, hầu hết các cơ sở đào tạo nghề thông
tin thư viện trên thế giới chỉ chú trọng đào tạo cán bộ thư viện truyền thống.
Chương trình đào tạo thường tập trung vào việc phát triển các bộ sưu tập tài
liệu truyền thống vì vậy nội dung chương trình chủ yếu đề cập đến các vấn đề
như lựa chọn, bổ sung, biên mục, tra cứu và lưu thông tài liệu. Ngày nay, các
chương trình đào tạo nghề thông tin thư viện đã mở rộng phạm vi nội dung chương
trình từ các bộ sưu tập truyền thống tới thế giới internet ảo, tập trung chủ
yếu vào việc cung cấp thông tin dưới nhiều hình thức trong các bối cảnh khác
nhau. Trong một nghiên cứu về chương trình đào tạo cán bộ thông tin thư viện
tại Mỹ, Callison và Tilley (2001) cho biết trong khoảng thời gian từ 1990 đến
1998 có 695 tên môn học mới được bổ sung vào chương trình đào tạo cán bộ thông
tin thư viện. Tên các môn học khá đa dạng giữa các cơ sở đào tạo khác nhau. Tuy
nhiên, Chu (2006) chỉ ra rằng các môn học truyền thống như biên mục, dịch vụ
thông tin, dịch vụ tham khảo là môn học bắt buộc ở hầu hết các cơ sở đào tạo
tại Mỹ, sau đó là các môn về quản lý thư viện, công nghệ thông tin, phát triển
bộ sưu tập, nhu cầu tin và người dùng tin. Các môn học liên quan đến công nghệ
thông tin và truyền thông như quản lý tài liệu điện tử, lập trình máy tính,
thiết kế cơ sở dữ liệu, phân tích hệ thống, thư viện số, xuất bản điện tử được
thiết kế trong nhóm các môn học tự chọn. Bên cạnh việc đổi mới nội dung đào
tạo, các trường thư viện cũng đổi tên và dang dạng hóa ngành đào tạo, từ khoa
học thư viện sang khoa học thông tin thư viện, thông tin học, quản trị thông
tin, thông tin và các phương tiện truyền thông, quản trị tri thức, quản trị
thông tin và tri thức. Ngày nay các trường đào tạo cán bộ thông tin thư viện
không chỉ thiết kế chương trình giảng dạy để đáp ứng các thư viện truyền thống
mà còn còn đáp ứng nhu cầu cán bộ thông tin cho các cơ quan giáo dục, thương
mại bằng việc chú trọng đào tạo các cán bộ tư vấn thông tin, chuyên gia thông
tin (Henri, 2004). Tương tự, Lorring (2007) cũng cho rằng, chương trình thông
tin thư viện không chỉ giới hạn cho cán bộ thư viện mà còn nhằm vào việc đào
tạo cán bộ lưu trữ, quản lý tư liệu, quản lý hồ sơ, biên tập Web, cũng như các
cán bộ bảo quản di sản và xuất bản. Đặc
biệt, các cơ sở đào tạo cán bộ thông tin thư viện đã và đang thay đổi cách tiếp
cận trong việc thiết kế chương trình, chuyển từ cách tiếp cận theo mục tiêu
sang cách tiếp cận phát triển. Theo cách tiếp cận này chương trình giáo dục
được xem là quá trình và giáo dục là sự phát triển. Giáo dục là sự phát triển
với nghĩa phát triển con người, tiểm năng, kinh nghiệm để có thể làm chủ được
bản thân, đương đầu với thử thách một cách sáng tạo, chủ động, tạo khả năng
thích nghi với nghề nghiệp luôn thay đổi và với thế giới luôn biến động. Giáo
dục là một quá trình tiếp diễn liên tục suốt đời. Cách tiếp cận này chú trọng
đến sự phát triển khả năng hiểu biết, tiếp thu ở người học hơn là truyền thụ
nội dung kiến thức đã được xác định từ trước. Các kỹ năng sống (life skills), kỹ
năng có thể chuyển đổi (transferable skills), kỹ năng tư duy (suy nghĩ có phê
phán – critical thinking), kỹ năng giao tiếp hiệu quả (effective
communication), làm việc nhóm, giải quyết vấn đề (problem - solving skills), kỹ
năng khai thác và xử lý thông tin được các cơ sở đào tạo chú trọng đưa vào
giảng dạy (Hallam, 2006). Theo (Kan, L. B và Yu, L.L, 2008) trong một thập kỷ
qua, các trường đào tạo nghề thư viện cũng đã nhận thấy cần đào tạo cho sinh
viên của mình ở tất cả các mức độ với các kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng phân
tích, các kĩ năng giao tiếp và quản lý. Với các lý do trên, Liên đoàn quốc tế
các Hiệp hội Thư viện và Cơ sở đào tạo (IFLA) đã chỉ ra tầm quan trọng của các
kỹ năng trên trong việc phát triển chương trình đào tạo cán bộ thông tin thư
viện: “Phương pháp giảng dạy và đánh giá nên được thiết kế đảm bảo phát triển
và cải thiện kỹ năng giao tiếp cá nhân của sinh viên, khả năng làm việc nhóm,
các kỹ năng quản lý công việc và thời gian” (IFLA, 2000) Vai trò của chúng ta ngày nay là
đào tạo những người cán bộ thư viện thông tin mà họ có được những cách nghĩ
chuyên nghiệp, các kỹ năng kỹ thuật phù hợp, họ phấn khởi với công việc của họ,
sẵn sàng giành thời gian, tiền của để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn”
(Harvey, 2001). Một trong các thách thức lớn nhất đối với chúng ta là đảm bảo
rằng nội dung các môn học về thư viện thông tin được đánh giá, xem xét lại và
cập nhật thường xuyên để theo kịp những thay đổi nhanh của thế giới. Những ảnh
hưởng của cuộc cách mạng thông tin và truyền thông cũng như những thay đổi mang
tính văn hóa xã hội đã có những tác động to lớn đến nghề thông tin thư viện.
Hơn bao giờ hết, việc nâng cao trình độ của giảng viên, cải tiến nội dung giảng
dạy, cách thức kiểm tra đánh giá và phương pháp giảng dạy giữ vị trí tiên quyết
trong việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ thông tin thư viện hiện nay. Bên
cạnh đó cải thiện môi trường làm việc là tiền đề để giảng viên phát huy tối đa
khả năng và tâm huyết của mình cho công tác giảng dạy. Tài liệu tham khảo Harvey,
R. (2001b). The challenges for information profession educators in Hallam,
G. (2006). Trends in LIS education in Henri, J. (2004). Studies for information
professionals, The University of Hong Kong, Faculty of Education, Division of
Information and Technology Studies. Retrieved August 20, 2008 from http://www.edb.gov.hk/FileManager/EN/Content_689/secter_e.pdf Lorring, Leif. (2007). “European LIS Curriculum
Project: content, reflectiona and curricular questions.” Bulletins of the
American Society for Information Science and Technology, 33(2), 16-20. International
Federation of Library Associations and Institutions (IFLA) (2000). Guidelines
for professional library/information education programs – 2000 [Online].
Retrieved 3 February 2006 from http://www.ifla.org/VII/s23/bulletin/guidelines.htm Carroll, C. E. (1975). History of library education. In
M. B. Cassata & H. L. Totten (Eds.), The administrative aspects of
education for librarianship: A symposium (pp. 2-28). Bài:
Th.S Lê Thị Thuý Hiền – Khoa Thư viện Thông tin Lượt xem: 2858 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|