Trần Thị Huyền
Tạp chí Triết học
Học thuyết âm dương ngũ hành không những được nhiều trường phái
triết học tìm hiểu lý giải, khai thác mà còn được nhiều ngành khoa học
khác quan tầm vận dụng. Có thể nói, ít có học thuyết triết học nào lại
thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri thức và được vận dụng để lý giải
nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội như học thuyết này.
Việc sử dụng phạm trù âm dương ngũ hành đánh dấu bước phát triển đầu
tiên của tư duy khoa học phương Đông nhằm đưa con người thoát khỏi sự
khống chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền
thống. Chính vì thế, sự tìm hiểu học thuyết âm dương ngũ hành là một
việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông.
Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong
sách "Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật
chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực,
nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu
nhược... Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ
trụ. Sách "Quốc ngữ" nói rằng "khí của trời đất thì không sai thứ tự,
nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên
được, âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất".
Lão Tử
(khoảng thế kỷ V - VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm âm dương. Ông
nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng dương”,
ông không những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm dương của trời đất mà
còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu
thuẫn, đó là âm dương.

Học thuyết âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch".
Tương truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng
con long mã trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới
đem lẽ đó vạch thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức "vạch lề"
để làm phù hiệu cho khí dương và một nét đứt (--) là vạch chẵn để làm
phù hiệu cho khí âm. Hai vạch (-), (--) là hai phù hiệu cổ xưa nhất của
người Trung Quốc, nó bao trùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật gì
không được tạo thành bởi âm dương, không vật gì không được chuyển hóa
bởi âm dương biến đổi cho nhau. Các học giả từ thời thượng cổ đã nhận
thấy những quy luật vận động của tự nhiên bằng trực quan, cảm tính của
mình và ký thác những nhận thức vào hai vạch (--) (-) và tạo nên sức
sống cho hai vạch đó. Dịch quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và
biến hóa không ngừng, do sự giao cảm của âm dương mà ra, đồng thời coi
âm dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể
thống nhất trong mọi sự vật từ vi mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể
đến toàn thể vũ trụ.
Theo lý thuyết trong "Kinh
Dịch" thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là nguyên nhân
đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra hai nghi, hai
nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ". Như vậy, tác giả
của “Kinh Dịch" đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động. Trong
thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương
lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng
thái âm lại nảy sinh thiếu dương. Cứ như thế, âm dương biến hoá liên
tục, tạo thành vòng biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ. Vì thế, các nhà
làm Dịch mới gọi tác phẩm của mình là "Kinh Dịch”. Ở "Kinh Dịch", âm
dương được quan nệm là những mặt, những hiện tượng đối lập. Như trong
tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông - tây, trong xã hội: quân tử -
tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi... Qua các hiện tượng tự nhiên, xã
hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đã bước đầu phát hiện được những mặt
đối lập tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật nào cũng ôm
chứa âm dương trong nó: "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào
cũng có một thái cực, thái cực là ầm dương). Nhìn chung, toàn bộ “Kinh dịch” đều lấy âm dương làm nền tảng cho học thuyết của mình.
Vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật liên quan tới sự sống
con người được bàn nhiều nhất trong nội dung trao đổi y học, y thuật
giữa Hoàng đế và Kỳ Bá
qua tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Tác phẩm này lấy âm dương để xem xét
nguồn gốc của các tật bệnh. "Âm dương, đó là cái đạo của trời đất, kỷ
cương của vạn vật, cha mẹ của sự biến hóa, gốc ngọn của sự sinh sát,
phủ tạng của thần minh, trị bệnh phải cần ở gốc, cho nên tích luỹ dương
làm trời, tích lũy âm làm đất, âm tĩnh đương động, dương sinh âm
trưởng, dương sát âm tàng, dương hóa khí, âm tàng hình".
Tác phẩm này còn bàn đến tính phổ biến của khái niệm âm dương. Theo
tác phẩm thì trời thuộc dương, đất thuộc âm, mặt trời thuộc dương, mặt
trăng thuộc âm. Âm dương là khái niệm phổ biến của trời đất. Mọi sự
vật, hiện tượng trong vũ trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu.
Thông qua quy luật biến đổi âm dương trong tự nhiên mà cố thể suy diễn,
phân tích luật âm dương trong cơ thể con người.
Từ những quan niệm trên về âm dương, người xưa đã khái quát thành
quy luật để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này: Trước hết, âm
dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng lại thống nhất với nhau, cùng
tồn tại phổ biến trong các sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên. Âm
dương đối lập, mâu thuẫn nhau trên nhiều phương diện. Về tính chất:
dương thì cứng, nóng, âm thì mềm, lạnh. Về đường đi lối về: dương là
thăng (đi lên), âm là giáng (đi xuống), "cái này đi ra thì cái kia đi
vào, cái này dịch sang bên trái, thì cái kia dịch sang bên phải".
Âm dương còn đối lập nhau cả ở phương vị nữa. Theo "Nội kinh", khí dương lấy phía Nam làm phương vị, lấy phía Bắc làm nơi tàng thế. Khí âm lấy phía Bắc làm phương vị, lấy phía Nam
làm nơi tiềm phục. Nếu suy rộng hơn nữa thì phàm những thuộc tính tương
đổi như hoạt động với trầm tĩnh, sáng sủa với đen tối, đông - tây,
trong xã hội : quân tử - tiểu nhân, hưng phấn với ức chế, vô hình với
hữu hình... chồng - vợ, vua - tôi... Qua các hiện tượng tự không một
cái gì không phải là quan hệ đối nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh
Dịch" đã lập của âm dương. Do đó, âm dương tuy là bước đầu phát hiện
được những mặt đối lập khái niệm trừu tượng nhưng nó có sẵn cơ sở tồn
tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật chất, nó có thể bao quát
và phổ cập tất cả vật nào cũng ôm chứa âm dương trong nó: các thuộc
tính đối lập của mọi sự vật, âm "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật,
vật nào dương tuỳ đối lập, mâu thuẫn nhau, song cũng có một thái cực,
thái cực là âm dương), không tách biệt nhau mà xâm nhập vào nhau, không
phải là tuyệt đối mà là tương đối, không phải là đại biểu cố định cho
một số sự vật nào đó mà là đại biểu cho sự chuyển biến, đối lập của tất
cả các sự vật. Song âm dương không phải là hai mặt tách rời nhau và chỉ
có đấu tranh với nhau mà còn thống nhất với nhau, nương tựa vào nhau để
tồn tại, "âm là cái dương vẫn tìm, mềm là cái dương vẫn lấn".
Trong vũ trụ, cái gì cũng thế, "cô dương thì bất sinh, cô âm thì bất
trường". Nếu chỉ một mình dương hay một mình âm thì không thể sinh
thành, biến hóa được. Nếu một mặt mất đi thì mặt kia cũng mất theo,
"dương cô thì âm tuyệt", âm dương phải lấy nhau để làm tiền đề tồn tại
cho mình. Ngay cả cái gọi là âm dương cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, vì
trong dương bao giờ cũng có âm, trong âm bao giờ cũng có dương. Khi
dương phát triển đến thái dương thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu
dương rồi, khi âm phát triển đến thái âm thì trong lòng nó đã xuất hiện
thiếu âm rồi. Sở dĩ gọi là âm vì trong nó phần âm lấn phần dương, sở dĩ
gọi là dương vì trong nó phần dương lấn phần âm. Âm dương bao giờ cũng
nương tựa vào nhau. Sách Lão Tử viết: "phúc là chỗ núp của họa, họa là chỗ dựa của phúc”.
Bên cạnh quy luật âm dương đối lập, thống nhất còn có quy luật tiêu
trưởng và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng,
sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng
thăng bằng tương đối của sự vật. Nếu mặt này phát triển thái quá sẽ làm
cho mặt khác suy kém và ngược lại. Từ đó làm cho hai mặt âm dương của
sự vật biến động không ngừng. Sự thắng phục, tiêu trưởng của âm dương theo
quy luật "vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản". Sự vận động của hai mặt
âm dương đến mức độ nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau gọi là "dương cực
sinh âm, âm cực sinh dương". Sự tác động lẫn nhau giữa âm đương luôn
nảy sinh hiện tượng bên này kém, bên kia hơn, bên này tiến, bên kia
lùi. Đó chính là quá trình vãn động, biến hóa và phát triển của sự vật,
đồng thời cũng là quá trình đấu tranh tiêu trưởng của âm dương.
Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất,
vận động và phát triển của một dạng vật chất, âm dương tương tác với
nhau gây nên mọi sự biến hóa của vũ trụ. Cốt lõi của sự tương tác đó là
sự giao cảm âm dương. Điều kiện của sự giao cảm đó là sự vật phải trung
và "hòa" với nhau. Âm dương giao hòa cảm ứng là vĩnh viễn, âm dương là
hai mặt đối lập trong mọi sự vật, hiện tượng. Vì vậy, quy luật âm dương
cũng là quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển không ngừng của
mọi sự vật khách quan.
Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới
những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ
trụ và hình thành thuyết âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bàn thể thế
giới, bản thể các hiện tượng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành
thuyết ngũ hành. Thuyết ngũ hành có thể hiểu đó là thuyết biểu thị quy
luật vận động của thế giới của vũ trụ, nó cụ thể hóa và bổ sung cho
thuyết âm dương thêm hoàn bị.
Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành được thấy trong tác phẩm "Kinh thư" ở chương "Hồng phạm" qua lời "Cổ Tử cáo với Vua Vũ nhà Chu". Trong Cửu trù "Hồng Phạm" thì ngũ hành về mặt tự nhiên được hình thành bằng những tên của năm loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và kèm theo
tính chất của các loại vật chất đó, năm loại vật chất này không thể
thiếu được đối với đời sống con người. Đứng về mặt thiên thời, "Hồng
phạm" cho rằng có cái gọi là ngữ "kỷ" (một là năm, hai là tháng, ba là
ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số). Về hiện tượng xã hội và hiện
tượng tinh thần của con người, "Hồng phạm" đề xuất "ngũ sự" và "ngũ
phúc". Ngũ sự như: một là tướng mạo, hai là lời nói, ba là trông, bốn
là nghe, năm là suy nghĩ. Ngũ phúc như: một là thọ, hai là phúc, ba là
thông minh, bốn là hiếu đức, năm là khảo trung mệnh. Qua đó nhận thấy
"Hồng phạm" dùng ngũ hành để liên hệ hiện tượng tự nhiên với hiện tượng
xã hội, nhằm thuyết minh thế giới là một chỉnh thể thống nhất, có trật
tự. Trong tư tưởng đó có chứa đựng nhân tố duy vật, khẳng định ngũ hành
là cơ sở của thế giới, tính chất của sự vật đều thể hiện tính năng của
năm loại vật chất: thủy, hỏa, kim,
mộc, thổ. "Hồng phạm" đã ảnh hưởng rất lớn đến triết học của thời đại
phong bến sau này. Các nhà duy vật và duy tâm từ những lập trường và
giác độ khác nhau mà rút ra từ "Hồng phạm" những tư tưởng phù hợp với
mình. Chính "Hồng phạm" và "Kinh dịch" đã tạo nên cái nền của vu trụ
luận.
Trong thiên "Thập nhi kỉ" sách “Lã Thị Xuân Thu" phần nói về mối
quan hệ giữa ngũ hành với giới tự nhiên có rõ nét hơn. "Nguyệt lệnh"
dùng thuộc tính vốn có của năm loại vật chất và tác dụng (tương sinh)
lẫn nhau giữa chúng để thuyết minh cho sự biến hóa của thời tiết bốn
mùa. Sự thuyết minh này tuy có tính chất khiên cưỡng nhưng là một quan
điểm duy vật. Còn về mặt xã hội thì "Nguyệt lệnh" cũng giống như "Hồng
phạm", ý đồ chính trị đã được nâng lên đến mức thể chế hành động của
ông vua theo ngũ hành. Người ta lấy sự chặt chẽ của trật tự ngũ hành và
quan hệ sinh khắc của nó để làm mực thước cai trị xã hội.
Trâu Diễn
là một lãnh tụ quan trọng của các nhà ngũ hành thời Chiến quốc. Khi đưa
thuyết ngũ hành vào lịch sử ông đã dùng trật tự của ngũ hành để gán
ghép cho trật tự của các triều đại vua. Ý tưởng của ông đã thành một
nếp khẳng định trong ý thức hệ của giai cấp phong kiến, đến nỗi gây ra
cuộc tranh luận về việc chọn tên "hành" cho triều đại nhà Hán (một
triều đại mà học thuyết âm dương ngũ hành rất thịnh và được đem ứng
dựng vào tất cả các công việc hàng ngày, vào mọi mặt của đời sống xã
hội). Lý luận của Trâu Diễn được các danh gia đương thời hấp thụ và quán triệt vào các lĩnh vực của hình thái ý thức xã hội.
Học thuyết ngũ hành của Đổng Trọng Thư một nho si uyên bác đời Hán có nhiều điểm khác với tư tưởng của Cơ Tử vả Trâu Diễn. Đi sáu vào hình thái của quy luật ngũ hành, Đổng Trọng Thư cho rằng: trật tự của ngũ hành bất đầu từ mộc qua hỏa, thổ, kim thủy. Khi phân tích quy luật sinh khắc của ngũ hành, ông đã dựa hẳn vào sự diễn biến của khí hậu bốn mùa. Theo ông, sở dĩ có sự vận chuyển bốn mùa là do khí âm, dương biến đổi.
Trong "Kinh Dịch", khi nói về ngũ hành, các nhà toán học và dịch học
đã lý giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì trời
lấy số 1 mà sinh thành thủ, đất lấy số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2
mà sinh hành hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh
hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 4 mà sinh hành kim,
trời lấy số 9 mà làm cho thành.
Quan điểm ngũ hành và sự ứng dụng của nó đối với đời sống con người
được bàn nhiều nhất trong tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Những lời bản
trong bộ sách này đã khẳng định học thuyết ngũ hành có vai trò hết sức
quan trọng đối với y học cổ truyền Trung Quốc.
Mối quan hệ giữa các hành trong ngũ hành được thực hiện qua các quy luật của ngũ hành.
Ngũ hành tương sinh: sinh có nghĩa là tương tác, nuôi dưỡng, giúp
đỡ. Giữa các hành trong ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau,
giúp đỡ lẫn nhau cùng phát sinh và phát triển. Đó gọi là ngũ hành tương
sinh. Quan hệ tương sinh của ngũ hành là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ,
thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.
Ngoài quy luật tương sinh còn có quy luật tương khắc. "Khắc" có
nghĩa là chế ước, ngăn trở, loại trừ. Thứ tự của ngũ hành tương khắc
là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hoả khắc kim, kim khắc mộc.
Trong ngũ hành tương sinh đồng thời cũng cổ ngũ hành tương khắc, trong tương khắc cũng ngụ có tương sinh. Đó là quy luật chung
về sự vận động, biến hóa của giới tự nhiên. Nếu chỉ có tương sinh mà
không có tương khắc thì không thể giữ gìn được thăng bằng, có tương
khắc mà không có tương sinh thì vạn vạt không thể có sự sinh hóa. Vi
vậy, tương sinh, tương khắc là hai điều kiện không thể thiểu được để
duy trì thăng bằng tương đối của hết thảy mọi sự vật.
Quy luật tương sinh tương khắc là chỉ vào quan hệ của ngũ hành dưới
trạng thái bình thường. Còn nếu giữa ngữ hành với nhau mà sinh ra thiên
thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng bằng, cân đối mà xảy
ra trạng thái trái thường thì gọi là "tương thừa", "tương vũ".
Hai học thuyết âm dương ngũ hành được hết hợp làm một từ rất sớm.
Nhân vật nổi tiếng nhất trong việc kết hợp hai học thuyết trên là Trâu Diễn.
Ông đã dùng hệ thống lý luận âm dương ngũ hành "tương khắc, tương sinh"
để giải thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian. Trâu Diễn là người đầu tiên vận dụng thuyết âm dương ngũ hành vào giải thích các hiện tượng xã hội nói chung.
Cuối thời Chiến Quốc, đầu thời Tần Hán có hai xu hướng khác nhau bàn về sự kết hợp giữa thuyết âm dương và thuyết ngũ hành.
Hướng thứ nhất: Đổng Trọng Thư kết hợp âm dương ngũ hành để giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người. Theo
ông, giữa con người và tự nhiên có một mối quan hệ thần bí. Khi giải
đáp về khởi nguồn, kết cấu của vũ trụ, ông đã sáng tạo ra một vị thần
có nhân cách đứng trên cả vũ trụ, có ý thức và đạo đức đó là trời. Theo
ông, trong vũ trụ con người là sự sáng tạo đặc biệt của trò vượt lên
vạn vật, tương hợp với trời, trời có bốn mùa, con người có tứ chi. Từ
thuyết "thiên nhân hợp nhất", ông đã dẫn dắt ra mệnh đề "thiên nhân cảm
ứng", cho rằng thiên tai là do trời cảnh cáo loài người. Ông còn lợi
dụng quan điểm định mệnh trong học thuyết âm dương ngũ hành để nói rằng
"dương thiên, âm ác". Tuy Đổng Trọng Thư đưa ra phạm trù "khí", "âm
dương", "ngũ hành" để giải thích quy luật biến hóa của thế giới, song
ông lại cho rằng những thử khí ấy bi ý chí của thượng đế chi phối.
Triết học của ông có màu sắc mục đích luận rõ nét. Bên cạnh đó ông còn
nói trời không đổi, đạo cũng không đổi để phủ nhận sự phát triển và
biến hóa của thế giới khách quan.
Hướng thứ hai: Tác phẩm "Hoàng Đế Nội kinh" đã sử dụng triết học âm
dương ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học. Tác phẩm này đã dùng học
thuyết trên để giải thích mối quan hệ giữa con người với trời đất: coi
con người và hoàn cảnh là một khối thống nhất, con người chẳng qua là
cơ năng của trời và đất thu nhỏ lại, con người không thể tách rời giới
tụ nhiên mà sinh sống được, con người với giới tự nhiên là tương ứng.
Tự nhiên có âm dương ngũ hành thì con người có "thủy hỏa" ngũ tạng. Nội
kinh viết: "âm dương là quy luật của trời đất tuy không thấy được nhưng
chúng ta có thể hiểu được nó thông qua sự biểu hiện của thủy hỏa khí
huyết, trong đó hỏa khí thuộc dương, thủy huyết thuộc âm". Tác phẩm này
còn dùng các quy luật âm dương ngũ hành để giải thích mối quan hệ giữa
các phú tạng trong cơ thể. Tác phẩm đã vãn dụng sự kết hợp giữa học
thuyết âm dương với học thuyết ngũ hãnh để giải thích các hiện tượng tự
nhiên cũng như các biểu hiện trong cơ thể con người và mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên. Đây là một quan điểm hoàn chỉnh và là một điển
hình của phép biện chứng thô sơ.
Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế
giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là âm dương. Âm dương
là quy luật chung của vũ trụ,
là kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa.
Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật
chất. Khi đó nó phải dùng thuyết ngũ hành để giải thích. Vì vậy có kết
hợp học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành mới có thể giải thích
mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý.
Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau,
không thể tách rời. Muốn nhìn nhận con người một cách chỉnh thể, đòi
hỏi phải vận dụng kết hợp cả hai học thuyết âm dương và ngũ hành. Vì
học thuyết âm dương mang tính tổng hợp có thể nói lên được tính đối lập
thống nhất, tính thiên lệch và cân bằng của các bộ phận trong cơ thể
con người, còn học thuyết ngũ hành nói lên mối quan hệ phức tạp, nhiều
vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận của cơ thể con người và giữa con người
với tự nhiên. Có thể khẳng định, trên cơ bản, âm dương ngũ hành là một
khâu hoàn chỉnh, giữa âm dương và ngũ hành có mối quan hệ không thể
tách rời.
Âm dương ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc
cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để
giải thích sụ sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Đến thời Chiến quốc, học
thuyết âm dương ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở
thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm
dương ngũ hành cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là
thế giới quan của người Trung Hoa ở vào một thời kỳ lịch sử đã lùi vào
dĩ vãng, lúc đó lực lượng sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho
nên không khỏi có những hạn chế do những điều kiện lịch sử đương thời
quy định Đặc biệt, sự phát triển của nó chưa gắn với những thành tựu
của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang dấu ấn của tính trực
giác và tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị cho con người
tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho
một số ngành khoa học cụ thể.
Nguồn:
Tạp chí Triết học