Gặp “người của Harvard” mắc nợ tiếng Việt
Tiến sĩ Ngô Như Bình đã có cuộc trò chuyện về con đường để trở thành
Giáo sư ở một trường Đại học danh tiếng nhất thế giới - Đại học
Harvard, Mỹ.
Người của Harvard!
3 "key words" để thành công của TS Ngô Như Bình là: Nghiêm túc, tự tin, phấn đấu không mệt mỏi. Ngoài công việc giảng dạy, tôi là thành viên của tiểu ban ngôn ngữ
của bộ môn, hai năm vừa rồi là thành viên của tiểu ban cố vấn cho chủ
nhiệm khoa về ngoại ngữ; làm cố vấn cho sinh viên năm thứ nhất. Sinh viên năm thứ nhất là những người mới từ trung học lên, còn
nhiều bỡ ngỡ trong năm đầu tiên ở đại học, cần có người hướng dẫn về
việc học tập cũng như các hoạt động khác trong trường. Mỗi năm tôi hỗ
trợ cho ba sinh viên thường có xu hướng chọn chuyên ngành về khoa học
xã hội hoặc nhân văn gần với chuyên ngành của tôi. Từ năm 2003 đến nay tôi là Chủ tịch Tổ chức các trường đại học giảng
dạy tiếng Việt ở Mỹ (Group of Universities for the Advancement of
Vietnamese Abroad - GUAVA). Tôi mới nộp bản thảo cuốn sách tiếp theo của tôi là Continuing Vietnamese cho nhà xuất bản. Cuốn sách sẽ ra mắt trong năm 2010. Từng giảng dạy ở những trường lớn như Lomonosov (Nga)... bây giờ là Harvard. Ông có nghĩ rằng mình may mắn? (Cười) Trong mọi thành công do kết quả của nỗ lực, không nhiều thì ít, bao giờ cũng có yếu tố may mắn. Lý do nào mà Harvard mời ông về gây dựng và giảng dạy bộ môn tiếng Việt? Đại học Harvard thường chỉ mời một người nào đó từ nơi khác đến làm
việc nếu thấy người ấy có khả năng đoạt giải thưởng Nobel trong tương
lai gần. Trường hợp của tôi cũng như tuyệt đại đa số trường hợp các giảng
viên khác là phải nộp đơn cho một tiểu ban xét duyệt tuyển người
(search committee) của trường khi họ tuyển người giảng dạy tiếng Việt.
Ở Mỹ có đến cả triệu người Việt làm ăn sinh sống, trong số họ không ít
người có bằng cấp rất cao của các cường quốc về giáo dục ở phương Tây. Cách đây hơn 17 năm, khi nộp đơn, tôi không mấy hy vọng mình sẽ được
tuyển. Vì sao Đại học Harvard lại chọn tôi, cho đến tận bây giờ tôi
cũng chỉ có thể phỏng đoán mà thôi. Tôi cho rằng kết quả công việc giảng dạy và nghiên cứu của tôi tại
Đại học Quốc gia Moskva (M.V.Lomonosov) trong hơn mười năm có tác động
không nhỏ đến quyết định của ban xét duyệt. Phải nói thêm rằng, giới
khoa học Mỹ rất khách quan trong việc đánh giá thành tựu của các trường
đại học nước ngoài, trong đó có Đại học Lomonosov. Một kỉ niệm đáng nhớ của ông khi còn là một sinh viên? Có lẽ điều đáng nhớ nhất là cái đói triền miên, đói từ những năm
cuối cùng của trung học cho đến tận những ngày cuối cùng của đại học
(tôi tốt nghiệp khoa tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội
tháng 7/1973). Có hai loại thực phẩm người Mỹ thích là ngô (corn) và bí đỏ
(pumpkin). Còn tôi thì thấy "ngại" mỗi khi phải ăn mà không từ chối
được, vì ở Việt Nam tôi đã ăn quá nhiều ngô và bí đỏ trong những năm
chiến tranh. Nói ăn quá nhiều ngô và bí đỏ cũng chưa thật chính xác, vì
những năm tháng ấy ngay cả ngô (thay cơm) và bí đỏ (thay các loại thực
phẩm khác) cũng làm gì có đủ mà ăn. Nợ với tiếng mẹ Là một nhà ngôn ngữ học, chiêm nghiệm lại, ông thấy mình chọn tiếng Việt hay tiếng Việt chọn mình? Tôi bắt đầu bị chinh phục bởi sức mạnh và vẻ đẹp của tiếng Việt có
lẽ là vào thời điểm những năm cuối của trung học. Tuy nhiên, trong năm
năm học tại khoa tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội,
chương trình tiếng Nga và văn học Nga khá nặng nên tôi không có điều
kiện đi sâu vào tiếng Việt. Khi chuẩn bị thi nghiên cứu sinh tôi mới có điều kiện đi sâu vào lý
thuyết tiếng mẹ đẻ của mình để so sánh với tiếng Nga. Song, chuyên
ngành tôi học nghiên cứu sinh tại Viện tiếng Nga thuộc Viện Hàn lâm
khoa học Liên Xô (cũ) ở Moskva là ngữ nghĩa tiếng Nga. Luận án của tôi nghiên cứu một nhóm trường nghĩa trong tiếng Nga.
Khi đã nắm vững một thứ tiếng nước ngoài, tôi thấy hết sức thú vị trong
việc dùng kiến thức về ngôn ngữ học đại cương cũng như về thứ tiếng ấy
để nhìn lại tiếng Việt. Cũng vào thời gian này, Bộ môn ngữ văn các nước Đông Nam Á, Triều
Tiên và Mông Cổ tại Học viện các nước Á-Phi thuộc Đại học Lomonosov cần
người bản ngữ giảng dạy tiếng Việt. Tôi xin vào đấy để có điều kiện
nghiên cứu sâu hơn về tiếng Việt. Từ ngày ấy đến nay, tôi gắn bó với tiếng Việt, nhìn tiếng Việt từ
góc độ của người bản ngữ và đối chiếu nó với những ngôn ngữ châu Âu mà
tôi nắm vững. Cảm nghĩ của ông thế nào khi làm công việc này? Tôi chỉ thấy rằng cần phải cố gắng hết sức mình để số sinh viên ghi
tên học tiếng Việt ổn định từ năm này sang năm khác, để sinh viên nhận
xét đánh giá các lớp tôi dạy như thế nào đó mà các lớp sinh viên sau đó
tiếp tục ghi tên học tiếng Việt (kết quả nhận xét đánh giá của sinh
viên được đưa công khai lên trang mạng của Đại học Harvard). Tôi vui mừng khi thấy tiếng Việt được giảng dạy liên tục tại Đại học
Harvard, và vui mừng khi thấy tiếng Việt có tên trên tấm biển của bộ
môn, ngang hàng với tiếng Trung, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Tuy nhiên,
cũng phải nói sự thật rằng số sinh viên ghi tên học tiếng Việt ít hơn
nhiều so với số sinh viên ghi tên học tiếng Trung và tiếng Nhật. Ông có nghĩ rằng, về một khía cạnh nào đó, ông cũng nợ và mang ơn tiếng Việt không? Quá đi chứ! Một người mà không mang ơn tiếng mẹ đẻ của mình thì
người ấy khó mà biết trân trọng nó, và từ đấy, khó mà biết trân trọng
nền văn hoá của dân tộc mình. Tôi sẽ quay trở lại vấn đề gìn giữ tiếng
Việt, và điều đó hoàn toàn hợp lẽ với nghề của tôi! Khi nói về Việt Tôi thường nói: "Tôi giúp các bạn học tiếng Việt để các bạn có dịp sang thăm Việt Tuyệt đại đa số sinh viên của tôi đã có dịp sang Việt Ông bồi đắp lòng yêu nước cho người Việt ở những nơi ông dạy bằng cách nào? Tôi giúp họ học tiếng Việt, dùng tiếng Việt để tìm hiểu văn hoá Việt
Nam, con người Việt Nam, đất nước Việt Nam, lịch sử oai hùng của dân
tộc Việt Nam. Có một điều thú vị là sinh viên của tôi càng hiểu nhiều
về những vấn đề Việt 3 “key words”... Theo ông, tố chất nào giúp ông có thể tồn tại trong một môi trường học thuật đầy cạnh tranh như Harvard? Làm việc tận tâm, làm hết sức mình, học hỏi liên tục để nâng cao
trình độ, học từ sách vở, học bạn bè đồng nghiệp, học ngay chính sinh
viên của mình. Tôi rất biết ơn cha mẹ tôi cùng các thầy cô giáo của tôi
ở Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo khoa tiếng Nga, Trường Đại học
Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, đã dạy tôi cách tự học để vươn lên. Quan điểm sống mà ông luôn theo đuổi là... Có lẽ điều tôi luôn cố gắng phấn đấu là sống có trách nhiệm với những người xung quanh và với chính bản thân mình... Hồi trẻ, ai là người tạo cho ông cảm hứng để đứng lên sau những lần ngã? Hồi trẻ tôi va vấp và nhận về rất nhiều thất bại. Nhưng bố mẹ tôi,
thầy cô giáo độ lượng của tôi, những người bạn chân tình của tôi không
xa lánh tôi sau những thất bại như thế mà ngược lại, động viên tôi rút
kinh nghiệm để sống cho tốt hơn. Tôi rất thích câu tục ngữ của người
Nga: Học qua những sai lầm, của người khác và của chính mình. Cũng vào thời trẻ, nỗi sợ lớn nhất của ông là gì, và vì sao? Tôi sợ nhất là những người xung quanh mình không hiểu được thiện ý của mình. Thế rồi làm thế nào để ông vượt qua nỗi sợ hãi đó? Có lẽ là vì tôi luôn sống thẳng thắn, chân thành với mọi người. Câu danh ngôn mà ông thấy thích nhất? Cũng lại là một câu ngạn ngữ của người Nga: Những gì người khác làm
được thì mình cũng làm được, kể cả những việc rất khó. Nói tóm lại là
phải tự tin ở sức mình. Nếu có 3 "key words" để thành công, ông sẽ nói 3 từ nào? Nghiêm túc, tự tin, phấn đấu không mệt mỏi. Ông cảm nhận gì về người trẻ trong nước hiện nay (cụ thể là qua tiếp xúc với các học trò người Việt)? Tôi mừng cho các bạn trẻ ở Việt Nam sống trong những điều kiện lý
tưởng để phấn đấu vươn lên, những điều kiện mà cách đây ba, bốn mươi
năm thế hệ chúng tôi không bao giờ dám mơ ước đến. Còn tận dụng những
điều kiện thuận lợi như thế nào lại là chuyện khác. Xin cảm ơn GS! TheoLê Ngọc Sơn Lượt xem: 828 |
Tiêu điểm
Xem nhiều
|