Đó là cuốn "Bàn về tự do" và "Chính thể và đại diện"
(cuốn sau dịch chung với Bùi Văn Nam Sơn). Có thể nói, đây là hai tác
phẩm giữ vị trí quan trọng trong tư tưởng phương Tây, đã được dịch ở
Nhật từ thời Canh tân Minh Trị và ở Trung Quốc thời Phong trào Ngũ Tứ.
Hiện nay các tác phẩm ấy vẫn thường được trích dẫn trong các nghiên cứu
và độc giả vẫn có thể tìm thấy ở đó những gợi ý giải thích cho các vấn
đề đương đại.
Vì sao ông chọn dịch hai cuốn sách này?
-
Tôi tự nhận xét mình là người có tính cách hướng nội, hay băn khoăn với
một số câu hỏi nhân sinh, vì vậy thường mò mẫm tìm đọc các tác phẩm có
thể giải đáp cho mình những băn khoăn ấy. Tôi thấy hai tác phẩm đó của
J.S. Mill giải đáp cho tôi nhiều điều nên đã dịch ra tiếng Việt để chia
sẻ với những ai có những băn khoăn tương tự.
Đây là lĩnh vực
tôi không hiểu biết nhiều và tiếng Anh cũng không phải là ngôn ngữ mà
tôi nắm vững, nhưng tôi vẫn liều lĩnh ráng làm công việc dịch thuật vì
hai tác phẩm ấy đã gây cho tôi ấn tượng rất mạnh. "Bàn về tự do" nói về
tương quan giữa con người và xã hội; J.S. Mill khẳng định sự cần thiết
phải có một không gian tự do cho sự phát triển con người cá nhân để tạo
ra một xã hội phát triển hạnh phúc và hài hoà.
Tác giả nêu ra
ranh giới mà xã hội không nên vượt qua trong việc can thiệp vào cuộc
sống của cá nhân để cá nhân có thể phát triển bản ngã của mình. Ông
không đòi quyền tự do cho cá nhân vì bản thân cá nhân mà vì lợi ích của
xã hội. Cuốn thứ hai bàn về chính thể đại diện và giải thích bản chất
của nền dân chủ là gì.
Gần đây tôi mới hoàn thành bản dịch một cuốn sách nhỏ của R.P. Feynman với nhan đề "The Meaning of It All" (Ý nghĩa mọi thứ trên đời).
Richard P. Feynman là nhà vật lý lý thuyết người Mỹ được trao giải
Nobel. Cuốn sách là ghi chép ba bài nói chuyện của ông với sinh viên
đại học trình bày những suy tư của ông về nhiều vấn đề nhân sinh.
Tất
cả các bản dịch của tôi đều do NXB Tri thức ấn hành. Nhân đây tôi muốn
nói lời cảm ơn với GS Chu Hảo cùng các cộng sự của ông trong NXB Tri
Thức vì nếu không có sự ủng hộ đầy chân tình của họ thì chưa chắc các
bản dịch của tôi đã đến được với độc giả.
Điều gì
khiến ông tin rằng những vấn đề cuốn sách đặt ra cách đây gần 150 năm
có thể giúp chúng ta lý giải một số vấn đề tư tưởng của hôm nay?
-
Các khái niệm tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp đã quen thuộc
với người VN từ các thế hệ trước tôi. Tuy nhiên tôi thấy hình như đa số
người Việt tiếp nhận các khái niệm ấy theo cảm tính thông qua các tiểu
thuyết của văn học Pháp thế kỷ XIX chứ chưa nhận thức những khái niệm
ấy thông qua các suy tư triết học. Vì vậy đã có nhiều suy đoán không
chính xác.
Rất nhiều người (và tôi trước đây cũng vậy) cứ hiểu
hàm hồ tự do là "muốn làm gì thì làm". Vì vậy bàn về tự do thì ai cũng
răn bảo: "Tự do cũng phải có giới hạn, đâu phải muốn làm gì thì làm".
Rồi hình thành định kiến là văn hoá phương Tây thiên về đòi hỏi quyền
con người cá nhân, còn phương Đông chúng ta thiên về đòi hỏi bổn phận
và nghĩa vụ. Nhưng khi tôi đọc J.S. Mill mới thấy định kiến ấy là hoàn
toàn sai.
Tác phẩm "Bàn về tự do" chủ yếu nói về bổn
phận và nghĩa vụ của mọi người phải tôn trọng không gian tự do của con
người cá nhân trong những vấn đề riêng tư của cá nhân, đồng thời có bổn
phận và nghĩa vụ tôn trọng các quy tắc công cộng trong những vấn đề
liên quan đến lợi ích của xã hội.
Chính vì thế, tôi hiểu được
ý nghĩa công cuộc vận động của cụ Phan Chu Trinh và phong trào Duy Tân
thuở trước. Tôi rất kính phục các cụ tiền bối đã sớm nhận thức được vấn
đề là: Nếu không biến đổi văn hoá của dân chúng trở thành văn minh, thì
không thể nào xây dựng được một xã hội tốt đẹp, dù có giành được độc
lập dân tộc đi chăng nữa.
Ông cho rằng hiện nay, ở ta vẫn còn nhiều sự ngộ nhận và hiểu lầm về khoa học (KH). Vậy nguyên nhân sâu xa là ở đâu?
-
KH không phải là sản phẩm của nền văn hoá phương Đông mà được du nhập
từ bên ngoài vào. Ban đầu ta không hiểu rõ nó là điều bình thường.
Nhưng tôi băn khoăn là chúng ta hội nhập với thế giới đã nhiều năm rồi,
lẽ ra những ngộ nhận về KH đã phải được giải đáp từ lâu. Mục đích của
hoạt động KH hướng đến những khám phá nhận thức mà hoàn toàn không có
mục đích ứng dụng. Những khám phá vật lý học dẫn đến các phát minh công
nghệ là hệ quả bất ngờ đối với chính các nhà vật lý.
Thành quả
công nghiệp hoá nền kinh tế khiến cho cộng đồng các nhà KH được xã hội
tôn vinh và Nhà nước quan tâm đến công việc của họ nhiều hơn; nhưng
cũng chính vì vậy mà sinh ra sự lẫn lộn giữa KH và công nghệ (CN) khiến
cho xã hội chỉ kỳ vọng ở các nhà khoa học sự đóng góp vào ứng dụng CN
mà thôi.
Hoạt động KH thời nay đòi hỏi nhiều thiết bị tốn kém
do ngân sách nhà nước gánh vác mà ở các chế độ dân chủ được xem là tiền
đóng thuế của dân chúng. Các nhà KH phải thuyết phục công luận về tính
hữu ích của dự án KH. Tuy nhiên, tính hữu ích của kết quả nghiên cứu KH
là không thể "quy hoạch" trước được. Vì vậy đây là một tình thế nan
giải. Tình thế này đòi hỏi các nhà KH đầu ngành phải có đạo đức nghề
nghiệp rất cao để có thể duy trì hoạt động KH được trung thực.
Vấn
đề khó khăn của VN lại có thực chất khác biệt và phức tạp hơn nhiều vì
các nhà KH VN hoạt động nghề nghiệp như các viên chức nhà nước trong bộ
máy sự nghiệp. Các thủ trưởng của họ là do Chính phủ bổ nhiệm xuống để
quản lý họ giống như quản lý các viên chức hành chính. Các vị thủ
trưởng ấy thường xuất thân từ các nhà KH, nhưng khi trở thành nhà quản
lý thì buộc phải xa rời hoạt động nghề nghiệp vì họ không phải là thánh
thần có ba đầu sáu tay để một lúc làm tốt được cả hai công việc. Họ
chạy đi chạy lại giữa hai cộng đồng có bản chất nghề nghiệp rất khác
nhau.
Rốt cuộc một số nhỏ thích nghi được với công việc quản
lý và trở thành nhà quản lý chuyên nghiệp, danh hiệu nhà KH là chuyện
của quá khứ. Họ được xã hội ngộ nhận như là nhà KH thành đạt. Số đông
còn lại tiếp tục ở trong trạng thái nhập nhằng và tôi e rằng chính họ
cũng không biết mình đang muốn gì.
Thời trước, chúng
ta đã có một tầm nhìn xa khi gửi một lớp nhà KH sang Liên Xô đào tạo,
với những tên tuổi như GS Nguyễn Văn Hiệu, GS Phạm Duy Hiển... Nhưng
tại sao xã hội lại không cảm nhận được thành tựu mà thế hệ vàng này
mang lại, thưa ông?
- Các nhà KH thế hệ chúng tôi
không tạo ra được thành tựu gây ấn tượng cho xã hội vì hai lý do. Một
là thành tựu mà xã hội kỳ vọng nơi các nhà KH - vốn còn rất non trẻ
trong nghề nghiệp - vừa không hợp lý lại vừa không đúng chỗ. Xã hội kỳ
vọng các nhà KH đem đến các ứng dụng công nghệ để cải thiện đời sống
vật chất cho xã hội.
Nhưng đây là trách nhiệm của những người
chi phối nền kinh tế chứ không phải của các nhà KH. Hoạt động KH mang
tính chất văn hoá là chủ yếu. Tuy nhiên, các nhà KH thế hệ chúng tôi
cũng có trách nhiệm rất lớn trong chuyện này. Chúng tôi đã không nhận
thức đúng được thực chất của hoạt động KH. Chúng tôi đã rất cố gắng học
tập chuyên môn và nhiều người cũng đạt được những thành tựu nhất định
trong nghiên cứu khoa học.
Khó khăn là KH hiện đại bị chia nhỏ
thành các lĩnh vực chuyên sâu, khiến cho những người giỏi nhất trong
chúng tôi cũng chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Chúng tôi đã không ý
thức được một cách minh triết các đặc thù của hoạt động KH để truyền
đạt cho thế hệ tiếp sau. Nhiều người trong chúng tôi chân thành mong
muốn đáp ứng kỳ vọng "ứng dụng công nghệ" của xã hội dưới mỹ từ "đem KH
vào cuộc sống". Họ rời bỏ công việc KH theo chuyên ngành được đào tạo
để lao vào các công việc vốn thuộc chuyên ngành khác. Những thất bại
của họ không đáng bị chê trách, nhưng phải là những bài học để suy
ngẫm.
Chúng tôi đã không nhận thức được rằng nghiên cứu KH
chính là một phương diện của bản thân cuộc sống để nhìn ra trách nhiệm
của thế hệ các nhà KH đầu tiên là chuẩn bị cho thế hệ tiếp theo trong
việc xây dựng nền KH quốc gia. Dưới các áp lực xã hội chúng tôi đã tự
tha hoá mình theo những cung cách khác nhau.
Xin ông nói rõ thêm về các nhà KH thế hệ của ông đã hình thành và hoạt động ra sao?
-
Trong hoàn cảnh chiến tranh, chính phủ nước ta lúc đó đã có chủ trương
sáng suốt là gửi một số đông học sinh tốt nghiệp phổ thông sang một số
nước để đào tạo đại học và sau đại học với tầm nhìn xa cho việc xây
dựng đất nước sau chiến tranh. Năm 1960, nhóm sinh viên đông đảo đầu
tiên được gửi đi có số lượng lên đến hàng ngàn. Cần nhớ rằng lúc đó
trên toàn miền Bắc số trường trung học có đủ bậc học cho đến tú tài còn
đếm trên đầu ngón tay.
Trước đó đã có rải rác một số học sinh
được gửi đi đào tạo, nhưng số lượng không đông như vậy. Việc đào tạo
như thế được duy trì trong nhiều năm, nhờ đó mà vào khoảng năm 1970,
nước ta đã thành lập được một số viện nghiên cứu như Viện Vật lý, Viện
Toán học..., các trường đại học đã có một đội ngũ giảng viên được đào
tạo bài bản. Vì sao dư luận xã hội hôm nay lại có nhiều ý kiến chê
trách đội ngũ này đã không để lại được một di sản có giá trị bền vững
cho thế hệ tiếp theo?
Đây là câu hỏi cần phải trả lời một cách
cẩn trọng và nghiêm túc, không phải nhằm tìm xem kẻ nào có tội, mà để
rút kinh nghiệm cho việc kiến tạo nền KH tương lai. Điều cần thiết là
phải hiểu đầy đủ những đặc thù lịch sử của thời kỳ đó.
Đáng
tiếc thế hệ ngày nay có vẻ như không hiểu biết gì nhiều về hoàn cảnh
lịch sử của thế hệ chúng tôi, hình như họ cứ tưởng rằng chúng tôi đã
trải qua cuộc sống trong những điều kiện giống như họ hiện nay. Bức
tranh lịch sử về xã hội thời chúng tôi có vẻ như sẽ đi vào quên lãng,
giống như thế hệ chúng tôi cũng đã rất thiếu hiểu biết về thời kỳ Pháp
thuộc.
Xin cảm ơn giáo sư.
|
GS-TS Nguyễn Văn Trọng, sinh năm
1940. Sang Liên Xô học năm 1960. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kiev năm
1965 với chuyên ngành vật lý lý thuyết. Bảo vệ luận án phó tiến sĩ khoa
học năm 1968 tại Kiev, sau đó làm cộng tác viên khoa học của Viện Vật
lý lý thuyết Kiev. Năm 1970 về VN, làm việc tại Viện Vật lý. Năm 1984
bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học tại Kiev. Trong khoảng thời gian
1987-2002 có một số chuyến đi làm viêc ngắn tại Viện Vật lý lý thuyết
thuộc Đại học Stuttgart (CHLB Đức - 1987, 1991, 1995, 1998, 2000, 2002)
và tại Đại học Moncton (Canada - 1992).
Được Nhà nước phong
hàm PGS (1984) và (1991). Đã có 30 công trình nghiên cứu KH được công
bố trên các tạp chí KH nước ngoài. Đã có nhiều bài viết trên các phương
tiện thông tin đại chúng về các vấn đề KH và văn hoá, là tác giả của
tiểu luận "Khảo luận về khoa học" (giới thiệu một số khảo sát triết học
đối với hoạt động khoa học), trong tập sách nhiều tác giả "Einstein,
dấu ấn trăm năm", NXB Trẻ (2005). |