
(ĐHVH)- Đã hơn hai mươi năm kể
từ ngày Đào Duy Anh (1904 - 1988) đi vào cõi vĩnh hằng. Biển học mà lúc sinh
thời cụ Đào nguyện làm con chim Tinh Vệ suốt đời ngậm đá lấp biển ngày càng
mênh mông, riêng những đóng góp của Đào Duy Anh đối với nghiên cứu khoa học xã
hội nói chung, với nghiên cứu văn hóa thật là to lớn. Đúng như nhận định của
nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy: những viên đá tảng mà Đào Duy Anh ném xuống biển
học không chìm mất tăm, mà đã tạo thành những cột mốc, đôi khi là những cột mốc
đầu tiên, chỉ đường cho những người sau ra khơi.
Một người thiết tha với văn hóa dân tộc
Sinh ngày 25 tháng 4 năm
1904 tại Thanh Hoá, ngay từ thuở nhỏ, Đào Duy Anh đã được mẹ kể cho nghe nhiều
truyện Nôm xưa từ Kiều, đến Nhị Độ Mai, Tống Trân, Thạch Sanh… Bầu không khí
tinh thần đó đã góp phần hình thành trong ông lòng yêu mến say mê với văn hóa
dân tộc. Niềm say mê đó đã cùng ông đi suốt những chặng đường dài. Sau này nhớ
lại, Đào Duy Anh đã nói rằng những truyện Nôm mẹ ông kể đã gây cho ông rất
nhiều “hứng thú”. Đến khi học ở trường Quốc học - nơi chỉ giảng dạy văn học
Pháp, ông đã cùng các bạn thân “ngồi hàng giờ mà trao đổi cảm tưởng và ý nghĩ
về những câu những đoạn cho là thú của Truyện Kiều” (1).Thuộc lớp trí thức trong
buổi giao thời của Hán học và Tây học, Đào Duy Anh đã chứng kiến những biến
chuyển mạnh mẽ của văn hoá dân tộc trong cuộc giao lưu với văn hóa phương Tây.
Trước cuộc xung đột giữa những giá trị cổ truyền của nền văn hoá dân tộc với
những điều mới lạ của văn hoá phương Tây, con người trí thức như Đào Duy
Anh không khỏi không xúc động, băn
khoăn, trăn trở. Ông đã sớm nhận thức được rằng, giải quyết xung đột này là vấn
đề quan hệ đến “cuộc sinh tử tồn vong của dân tộc ta vậy”. Đào Duy Anh đã lựa chọn con đường văn hoá để
thực hiện khát vọng của mình là góp phần “phục hồi cái sinh khí của dân tộc
đang bị lu mờ dưới chế độ thống trị thực dân” (2). Vấn đề đặt ra với ông là vừa
xem xét lại nội dung văn hoá xưa là gì, vừa nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị
mới như thế nào, nói cách khác là phải ý thức rõ về mình, ý thức rõ về người, ý
thức được sứ mệnh lịch sử của dân tộc trong tương quan về tinh thần cũng như
thực tế của thế giới hiện đại. Như một lẽ tự nhiên, ông đến với chủ nghĩa Mác,
“một thứ nhân sinh quan, một phương pháp tư duy đúng đắn, một thứ ánh sáng”(3)
có thể chỉ dẫn con đường của mình, giúp ông khai thác vốn văn hoá của dân tộc,
chọn lấy những cái hay, cái đẹp để xây dựng nền văn hoá mới. Nhà nghiên cứu Tạ
Trọng Hiệp tại Pháp, người đầu tiên xây dựng thư mục của Đào Duy Anh đã khái
quát hai cách làm của ông trên con đường văn hóa:
Thứ nhất, giới thiệu cái
mới, mới về tư tưởng, mới về phương pháp, mới về công cụ tư liệu, biến nó thành
vốn liếng và lợi khí làm thức tỉnh quần chúng, nâng cao dân trí, trang bị đầu
óc cho lớp người đang phải lần đường bằng tranh đấu và tự học.
Thứ hai, khi trình độ xã
hội đã phát triển hơn, khi luồng gió mới đã chiếm ưu thế thì lại giới thiệu cái
cũ, dùng phương pháp mới mà tổng kiểm tra lại di sản của quá khứ (lịch sử, kinh
tế, hành chính, phong tục, văn học, ngữ văn) để có cơ sở tinh thần mà tiêu hóa
cái mới, để đừng vong bản, để ta vẫn là ta tuy có đổi mới.
Ở giai đoạn trước cách
mạng tháng Tám - 1945, Đào Duy Anh đã dựa vào việc xuất bản hợp pháp, cho ra
hàng loạt sách Quan hải tùng thư với 13 tập nhằm “gieo vào tâm trí của thanh
niên ta một ít kiến thức sơ đẳng về chủ nghĩa Mác, lẫn một ít kiến thức mới về
khoa học, nhất là khoa học xã hội.”(4) Những cuốn sách này đã bao phủ kiến thức trên nhiều lĩnh vực: chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, tôn giáo…đó là những nội dung mới được đưa
vào xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX bằng hai con đường Hán văn và Pháp văn.
Nó đã được Đào Duy Anh và cộng sự của ông trong nhóm Quan hải tùng thư phổ biến
qua các cuốn sách in bằng chữ quốc ngữ một cách hệ thống, nhằm đáp ứng nhu cầu
của lớp thanh niên trí thức lúc đó đang sống giữa hai thái cực: bắt đầu mù chữ
Hán văn, bị cắt rời khỏi nền Hán học hoặc là nắm vững Pháp văn hơn cả Việt văn.
Những cuốn từ điển mà Đào Duy Anh biên soạn từ năm 1931 đến 1936 (Từ điển Hán –
Việt, Từ điển Pháp – Việt) cũng không nằm ngoài mục đích đó. Đào Duy Anh đã
nhận thấy sự bất cập trong sinh hoạt học thuật lúc đó, những sĩ phu, trong khi
truyền bá tư tưởng mới cho quốc dân, phải sử dụng những ngôn từ, thuật ngữ của
Trung Hoa để phiên theo âm Hán- Việt, kể cả từ đó đã có trong tiếng Việt, còn
lớp thanh niên trí thức mới chỉ biết diễn đạt những khái niệm mới bằng tiếng
Pháp chứ không sử dụng tiếng mẹ đẻ. Tình trạng đó, theo ông, đã hạn chế việc
phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Những cuốn từ điển này của Đào Duy Anh
đã đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội, truyền bá nhiều tri thức hiện đại và
là công cụ cho nghiên cứu, học tập của nhiều người Việt Nam trong thời gian
dài.
Đào Duy Anh cũng đã kiểm
kê lại hành trang của văn hóa dân tộc bằng việc tổng kết khá toàn diện và sâu
sắc về quá khứ của dân tộc. Từ đây, ông bước vào nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu
văn hóa. Từ những nguồn tư liệu rải rác ở khắp nơi về lịch sử Việt Nam, Đào Duy
Anh đã hệ thống hóa, biên soạn nên nhiều công trình có một khối lượng tri thức
khá đồ sộ. Trong đó, “Việt Nam văn hóa sử cương” là công trình có ý nghĩa mở
đường cho hàng loạt tác phẩm sau đó là: “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam”, “Vấn đề
An Dương Vương và Âu Lạc”, “Văn hoá đồ đồng và trống đồng Lạc Việt”, “Đất nước
Việt Nam qua các thời”….
Người viết cuốn lịch sử văn hóa đầu tiên của dân tộc
Cho đến nay, “Việt Nam văn
hoá sử cương” đã ra đời hơn 70 năm. Cuốn sách đã được tái bản rất nhiều lần. Nó
không chỉ quen thuộc với giới nghiên cứu văn hoá, lịch sử, dân tộc học mà còn
được nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác và bạn đọc đông đảo quan tâm. Chỉ
thế cũng đủ nói lên sức sống và hấp dẫn của cuốn sách này. Trong lời tựa, Đào
Duy Anh tự nhận cuốn sách chỉ là một “mớ tài liệu để tham khảo” giúp cho các
bạn đồng nghiệp giảng dạy bộ môn Văn hoá Việt Nam trong chương trình giáo dục
Cao đẳng tiểu học năm 1938. Trên thực tế, cuốn sách đã vượt xa khỏi phạm vi đó
rất nhiều. Trong điều kiện những tư liệu về lịch sử, văn hoá Việt Nam còn rất
phân tán, rải rác, vụn vặt và nhiều khi mâu thuẫn, Đào Duy Anh đã hệ thống hoá
để biên soạn nên một tác phẩm có đề tài rộng nhưng “thanh thoát đến độ ai đọc
cũng được, không bực mình trước những biểu hiện của giáo điều, không khiếp hãi
trước mớ tư liệu ngồn ngộn” (5). Bước đầu sử dụng các phương pháp phân tích khoa học của chủ nghĩa Mác - phương
pháp rất mới đối với giới nghiên cứu lúc đó, Đào Duy Anh đã trình bày “Việt Nam
văn hoá sử cương” ở ba phần lớn là sinh hoạt kinh tế; sinh hoạt chính trị và xã
hội; sinh hoạt tinh thần; phần tự luận nêu lên điều kiện địa lý của nước ta và
những đặc trưng của văn hoá Việt Nam ở phần tổng luận. Cách trình bày lịch sử
văn hoá của Đào Duy Anh là theo các thành tố, các lĩnh vực của văn hoá suốt từ
thời cổ đại đến hiện đại. Những nội dung ông nêu ra khá toàn diện, giúp người
đọc hình dung được diện mạo của văn hoá dân tộc. Với “Việt Nam văn hoá sử
cương”, Đào Duy Anh là người đầu tiên khái quát một cách hệ thống các đặc tính
của văn hoá Việt Nam như xã hội lấy gia tộc làm cơ sở; văn hoá lấy cảm tình làm
bản vị; tính tình ưa chuộng hoà bình; nhân sinh quan kiện toàn; tính trường
tồn. Đây là những giá trị đã được hình thành từ lâu đời, trở thành bản sắc
riêng của văn hoá Việt Nam. Đồng thời, Đào Duy Anh cũng chỉ ra rằng, những đặc
tính này không phải là bất biến, chúng được hình thành trong những điều kiện
lịch sử, xã hội nhất định nên khi những điều kiện ấy thay đổi thì các giá trị
đó không thể đứng yên được. Trước cuộc tiếp xúc với văn hoá phương Tây, những
giá trị trong xã hội nông nghiệp vốn “có kết quả tốt” thì ngày nay “hoá thành
những tệ hại rất trở ngại cho sự sinh hoạt ở thời đại này”. Trong quá trình hội
nhập với thế giới hôm nay, một lần nữa bản sắc dân tộc lại trở thành chủ đề thu
hút sự quan tâm của đất nước, thì cách tiếp cận và phương pháp luận mà Đào Duy
Anh đưa ra 70 năm trước vẫn còn nguyên giá trị. Trong cuốn hồi ký “Nhớ nghĩ
chiều hôm”, Đào Duy Anh có nói rằng ông chưa có thể viết một quyển sách về lịch
sử văn hoá Việt Nam “tương đối thoả mãn được” nhưng sự ra đời của “Việt Nam văn
hoá sử cương” là cái mốc đầu cho nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam. Các công
trình nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam ra đời sau này, dù có cập nhật và
phong phú về mặt tư liệu hơn nhưng “quan niệm về văn hoá, lịch sử văn hoá, cách
trình bày và các nhận xét rút ra có phần không được mạch lạc, khúc chiết và
không gây được ấn tượng như công trình của Đào Duy Anh”(6)
Người mở đường cho nghiên cứu lý luận văn hóa ở Việt nam
Thực tiễn cho thấy, cho
đến đầu thế kỷ XX, nước ta chưa có chuyên ngành lý luận văn hóa. Trước đó, các
trí thức của dân tộc cũng đã từng đề cập đến văn hóa nhưng chưa thể gọi đó là
lý luận với tư cách là hệ thống tri thức cơ bản với những thuật ngữ khoa học.
Đào Duy Anh là người đi tiên phong trong lĩnh vực này. Khi bắt tay vào viết “Việt
Nam văn hóa sử cương”, điều ông quan tâm đầu tiên là phải xác định được khái
niệm văn hoá như là công cụ để miêu tả, phân tích và khái quát những nội dung
của lịch sử văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, trong phạm vi của một cuốn sách thuộc
chương trình ban Cao đảng tiểu học, ông không có điều kiện đi sâu vào những vấn
đề học thuật, trình bày sâu sắc khái niệm văn hóa. Công việc đó chỉ được thực
hiện khi ông viết cuốn sách “Văn hóa là gì” vào năm 1945. Đào Duy Anh đã nhắc lại
mối quan hệ giữa văn hóa và sinh hoạt, đồng thời phân tích sâu sắc mối quan hệ
này để từ đó đi đến một quan niệm “Văn hóa là phương thức sinh hoạt”(7). Với
cách tiếp cận này, ông đã đề cập đến phạm vi rất rộng của văn hóa, bao hàm tất
cả các phương diện sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạt vật chất, sinh hoạt
tinh thần cho đến sinh hoạt xã hội. Cái sinh hoạt mà Đào Duy Anh dùng để chỉ
văn hóa ở đây không phải là những sinh hoạt bình thường trong cuộc sống hàng
ngày mà là những sinh hoạt sáng tạo ra những giá trị văn hoá. Người nông dân
cày ruộng, đó là sinh hoạt chứ không phải hoạt động văn hóa nhưng người xưa nhờ
kinh nghiệm và thiên tài làm ra lưỡi cày đồng, lưỡi cày sắt thay cho lưỡi cuốc
đá, biết dùng trâu bò thay cho sức người là sản sinh ra giá trị văn hóa. Những
phát minh của loài người như lửa, quần áo, nhà cửa đến những phương tiện hiện
đại như máy phát điện, tàu hỏa, máy bay hay từ cái ma thuật, thần thoại của người
cổ đại cho đến nghệ thuật, triết học và khoa học đời nay là “biểu hiện những
trạng thái sinh hoạt của loài người”. Đào Duy Anh cho rằng tất cả những biểu
hiện đó kết tinh thành những hình thức tương đương mà ta gọi là giá trị văn
hóa. Từ đó, ông đi đến một định nghĩa “Văn hóa là những giá trị biểu hiện cuộc
sinh hoạt mạnh mẽ cuả loài người trong cả phương diện vật chất, tinh thần và xã
hội” (8). Nó bao gồm: hình thái kinh tế, hình thái chính trị, pháp luật, binh
chế, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, triết học, phong tục, lễ
nghi, tôn giáo… Từ khái niệm văn hóa, Đào Duy Anh đã nêu chi tiết mối quan hệ
của khái niệm này với các khái niệm có liên quan như văn minh, giáo hóa, sáng
hóa, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần. Có thể nói, với việc trình bày này,
Đào Duy Anh đã xác định một cấu trúc của văn hóa, dẫu rằng cách phân chia còn
đơn giản nhưng trong thời điểm đó đã thể hiện trình độ khái quát cao và cập
nhật với những kết quả nghiên cứu lý luận văn hóa của thế giới. Đặc biệt thú vị
và sâu sắc là sự gặp gỡ trong quan niệm về văn hoá của Đào Duy Anh và Hồ Chí
Minh. Những năm 1942 - 1943, Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn
hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức
sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự
tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn” (9). Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt (chúng tôi nhấn
mạnh - Lê Xuân Kiêu)
Trong cuốn sách “Văn hoá
là gì”, Đào Duy Anh còn trình bày hàng loạt các vấn đề lý luận văn hóa như
nguồn gốc văn hóa, chủ thể của văn hóa và vai trò của văn hóa. Về nguồn gốc của
văn hóa, ông cho rằng văn hóa được hình
thành trong quá trình đấu tranh với tự nhiên và đấu tranh xã hội của con người.
Hoạt động văn hoá đầu tiên của con người là việc sáng tạo ra những công cụ lao
động đơn giản nhất. Những học thuyết của Phật Thích ca, chúa Giêsu, Khổng Tử là
những con đường giải thoát khỏi nỗi khổ đau cho loài người, đó là những giá trị
văn hoá “biểu hiện những hy vọng và mộng tưởng của đại đa số dân chúng” Ông
phản đối quan niệm văn hoá là cái cao quý, tốt đẹp vì vậy chỉ dành riêng cho
giới thượng lưu, trí thức. Theo ông, văn hoá là kết quả của sự hợp tác toàn thể
nhân loại trên thế giới trải qua các thế hệ, chứ không phải riêng của giai cấp
nào.
Với việc trình bày về khái niệm văn hóa, nguồn gốc và các quan hệ của văn
hóa như trên, Đào Duy Anh cho chúng ta thấy mối quan hệ của các yếu tố cấu
thành nên đời sống xã hội: con người, đời sống sinh hoạt và văn hóa. Con người
là chủ thể của văn hóa, là lực lượng sáng tạo nên các giá trị văn hóa thông qua
các phương thức sinh hoạt tức là các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần,
hoạt động nghệ thuật… Văn hóa với tư cách là những giá trị vật chất, giá trị tinh
thần là “lợi khí” cho con ngưòi trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và trong cuộc
đấu tranh xã hội, “công dụng và mục đích của văn hóa là khiến người chinh phục
được tự nhiên để nâng cao trình độ sinh hoạt vật chất và tinh thần”(10). Chính
nhờ có văn hóa mà con người khác với động vật, không phải là động vật. Sự tiến
bộ của văn hóa đánh dấu sự trưởng thành của con người trên bước đường tiến hóa
“Văn hóa đã nâng người lên cao hơn động vật xa lắm”(11). Khi loài ngưòi phát
triển vượt qua chế độ thị tộc, trong xã hội bắt đầu có sự phân hóa và đấu tranh
giữa các lực lượng, để tránh cho xã hội rơi vào hỗn loạn con người đã tạo ra
pháp luật, lễ nghi, đạo đức, khoa học, nghệ thuật và những thể chế văn hoá, xã
hội khác, phản ánh hệ giá trị của cộng đồng, được các thành viên trong cộng
đồng thừa nhận và quy định việc ứng xử của họ. Có thể nhận thấy Đào Duy Anh đã
làm nổi bật vai trò của văn hóa đối với đời sống xã hội và con người. Văn hoá làm
cho con người thoát khỏi thế giới động vật, hình thành nên các cộng đồng người
trong lịch sử, văn hóa đóng vai trò bảo đảm sự sinh tồn của các cộng đồng đó và thúc đẩy xã hội phát triển ngày càng hoàn thiện
hơn, như cách nói hôm nay, văn hóa vừa
là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế, xã hội.
Với những gì mà Đào Duy
Anh đưa ra trên đây, một bộ môn trong khoa nghiên cứu khoa học xã hội và nhân
văn ở Việt Nam đã có hình hài. Cuốn sách nhỏ “Văn hoá là gì” đã trình bày một
cách hệ thống những vấn đề của lý luận văn hoá, mở ra những đường hướng cơ bản cho
khoa nghiên cứu văn hoá học ở Việt Nam ngay từ nửa đầu thế kỷ XX. Điều mà trước
Đào Duy Anh, chưa nhà nghiên cứu nào thực hiện cả. Tác phẩm này đã cung cấp cho
những người đi sau những khái niệm công cụ, cơ sở lý luận chung để nghiên cứu
các vấn đề của văn hoá dân tộc, từ việc xác định bản sắc văn hoá cho đến con
đường để xây dựng nền văn hoá mới của dân tộc.
Cuộc đời và sự nghiệp
của Đào Duy Anh là hành trình đi từ tinh thần yêu nước, yêu văn hoá dân tộc đến
khoa học. Đứng trước những vấn đề của thực tiễn văn hoá dân tộc, cũng như nhiều
trí thức khác, khát vọng của ông là gây dựng được một nền văn hoá riêng cho dân
tộc mình - một nền văn hoá có bản sắc, có khả năng thâu thái tinh hoa của các
dân tộc khác và nhất là phải độc lập trong quá trình tiếp xúc với thế giới. Cả
cuộc đời ông đã đeo đuổi, kiên trì với sự nghiệp tinh thần đó, ngay cả những
lúc khó khăn nhất đối với bản thân ông. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học nghiên cứu
văn hoá, có thể có những nội dung tri thức mà ông đưa ra cách đây 70 năm đã bị
vượt qua, nhưng rõ ràng với những gì ông để lại cho hậu thế, Đào Duy Anh luôn
xứng đáng được tôn vinh là một trong những người đặt nền móng cho khoa nghiên
cứu văn hoá ở Việt Nam.
Chú thích:
1. Đào Duy Anh, Nhớ nghĩ
chiều hôm, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh. 1989, tr 18
2. Đào Duy Anh, Nhớ nghĩ
chiều hôm, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh. 1989, tr 48
3. Đào Duy Anh, Nhớ nghĩ
chiều hôm, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh. 1989, tr 34
4. Đào Duy Anh, Nhớ nghĩ
chiều hôm, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh. 1989, tr 34
5. Ngô Đức Thịnh, Tổng
quan tình hình nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam, Tạp chí Văn hoá dân gian,
số 6 năm 2007, tr 16
6. Đào Duy Anh, Nghiên cứu văn hoá và ngữ văn, Nxb Giáo dục, H. 2005, tr 691
7. Đào Duy Anh, Nghiên cứu văn hoá và ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 2005, tr 692
8. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2000, tr 431
9 . Đào Duy Anh, Nghiên cứu văn hoá và ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 2005, tr 698
10. Đào Duy Anh, Nghiên cứu văn hoá và ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 2005, tr 698
11. Tạ Trọng Hiệp, http://vannghe.free.fr/tatrong/daoduyanh.htlm
Bài: Lê Xuân Kiêu, NCS, Khoá I, ĐHVHHN
Admin3